“Ca
khúc là nỗi lòng của con người” là một bài tản văn đầy
xúc động của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, đã được báo Đại đoàn kết đăng tải kèm những
dòng giới thiệu của tác giả bài báo.
![]() |
| Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn |
Bài
tùy bút mở ra một không gian nghệ thuật đầy chiêm nghiệm, nơi âm nhạc không đơn
thuần là sự kết hợp của giai điệu và ca từ, mà chính là tấm gương phản chiếu trọn
vẹn nhịp đập của tâm hồn con người qua bao thăng trầm năm tháng. Đó không chỉ
là lời tâm sự của riêng Trịnh Công Sơn, mà còn là bức chân dung tự họa về một
người nghệ sĩ suốt đời trung thành với sự trong trẻo, nhân hậu và tình yêu
thương con người. Qua những câu chữ của bài viết, ta càng thêm trân trọng những
di sản âm nhạc mà ông để lại - nơi mỗi bài hát thực sự là một mảnh đời, một nhịp
đập thổn thức cùng vận mệnh của quê hương, xứ sở.
Sau
đây chúng tôi xin gửi tới bạn đọc toàn bộ nội dung bài báo đã đăng trên báo Đại
đoàn kết.
Đối với nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, quá
trình 40 năm sáng tác của ông là một cuộc hành trình dài vào bề sâu của âm
thanh và ngôn ngữ. Ông coi ca khúc là một mô hình gần gũi, thiết thân và hoàn
chỉnh; là cuộc hôn phối kỳ diệu giữa thi ca và âm nhạc. Công việc sáng tác ca
khúc không chỉ cho phép ông giãi bày những niềm vui, nỗi buồn của mình, mà cao
hơn, nó còn mang tình yêu, lòng nhân ái tới mỗi người.
Soi gương
Mỗi
sáng nhìn vào mặt gương soi lại thấy thêm rất nhiều sợi tóc bạc.
Tôi
là một đứa bé thích ca hát. Mười tuổi biết solfège (Tiếng Pháp, nghĩa là xướng
âm, chú thích của VnTimeless), chép lại những bài hát yêu thích đóng thành tập,
chơi đàn mandolin và sáo trúc. Mười hai tuổi có cây đàn guitar đầu tiên trong đời
và từ đó sử dụng guitar như một phương tiện quen thuộc để đệm cho chính mình
hát.
Tôi
không đến với âm nhạc như một kẻ chọn nghề. Tôi nhớ mình đã viết những ca khúc
đầu tiên từ những đòi hỏi tự nhiên của tình cảm thôi thúc bên trong. Như những
họa sĩ tập sự bắt đầu sự nghiệp mình bằng cách sao chép lại tác phẩm của những
nhà danh họa, tôi cũng chọn một số mẫu mực âm nhạc mà tôi yêu thích và thay đổi
giai điệu bên trong ở thời kỳ đầu. Đó là những năm 56 – 57, thời của những giấc
mộng ngổn ngang, của những viễn tưởng phù phiếm non dại. Cái thời tuổi trẻ xanh
mướt như trái quả đầu mùa ấy, tôi rất yêu âm nhạc nhưng tuyệt nhiên trong tôi
không hề gợi lên ham muốn trở thành nhạc sĩ. Đối với cái bề mặt xã hội lúc bấy
giờ, tương lai có nhiều tiếng gọi khác hấp dẫn hơn, quyến rũ hơn cho một con
người còn trẻ tuổi.
Dạo
ấy ba tôi đã mất, mẹ tôi ở xa, tôi một mình giữa Sài Gòn phải tự quyết định mọi
chuyện về đời mình. Cái gánh đời tuổi tác còn quá nhẹ. Có lúc tôi đã bỏ dở cái
trò lãng mạn viết lách này với nỗi ám ảnh ngu ngốc “xướng ca vô loại”. Tôi trằn
trọc đêm này qua đêm khác, ray rứt ngày này qua tháng nọ. Nhưng càng cố quên lãng
thì tiếng hát trong tôi càng vang lên rõ rệt, tràn ngập cả lúc đứng ngồi, cả
trong giấc ngủ.
Dần
dà những năm về sau, mới bắt đầu hình thành trong tôi một quan niệm rõ rệt: Sống
là sống với người khác và muốn có cảm thông chúng ta phải luôn luôn tự diễn đạt
mình. Trong những cách diễn đạt bằng tiếng nói, bằng chữ viết và nhiều phương
tiện khác, tôi thấy tâm hồn mình có khuynh hướng nghiêng về phía ca khúc. Trên
mảnh đất nghệ thuật nhỏ nhắn này, tôi tìm thấy tự do và tôi nghĩ rằng ở đây tôi
có thể bày tỏ được với người khác về những niềm vui nỗi buồn của cuộc sống.
Mấy
mươi năm nhìn lại quãng đường mình đã đi, tôi cảm thấy không có gì phải ân hận.
Tôi vẫn là đứa trẻ thơ trong nghệ thuật, lòng còn tràn đầy cảm hứng. Tôi vẫn
còn ham mê học hỏi quanh mình và còn đủ hào hứng mở ra những cuộc đối thoại với
cây cỏ thiên nhiên, với con người qua ca khúc dưới ánh sáng hiền hòa nhân hậu của
những ngày tôi đang sống.
Phải
chờ đến lúc soi gương nhìn thấy tóc không còn mang màu xanh cũ nữa, mới nhận ra
được hết nỗi khát khao được yêu thương mãi mãi con người và cuộc sống. Yêu
thương con người cũng là yêu thương tiếng hát bởi vì tiếng hát mang trong nó
tâm hồn của con người. Tiếng hát sẽ mọc lên xanh tươi trên cuộc đời này như những
cây tử đinh hương mọc tràn thơm tho trên những cánh đồng vô tận.
Với
ca khúc, tôi là người tình của thiên nhiên, là người bạn của những em bé. Qua
ca khúc, tôi đã đến gần và đã đi xa những chuyện tình; đã tham dự những nỗi hân
hoan của đời người và cũng đã gánh nhẹ giùm những phiền muộn.
Ca
khúc là đời sống thứ hai sau cái thân thể mà cha mẹ đã sinh thành.
Trái đầu mùa
Bài
hát đầu tiên do Nhà xuất bản An Phú phát hành năm 1959 tại Sài Gòn. Đó là những
cảm xúc được ghi lại từ những giọt nước mắt của một ca sĩ nữ sinh vừa rời ghế
nhà trường. Cô hát để kiếm tiền nuôi mẹ đang hấp hối trên giường bệnh.
Dạo
ấy, trong đầu hoàn toàn chưa có một khái niệm nào về tiền tác quyền. Ở tuổi hai
mươi, trong tâm trí đang còn phơi phới những ý đồ hiệp sĩ. Số tiền năm ngàn hồi
ấy quá lớn đã được dùng một phần tặng người ca sĩ và phần còn lại chia đều cho
các bạn cùng ở trọ. Mỗi tháng, tiền ăn ở cho một học sinh, sinh viên chỉ có
năm, sáu trăm đồng.
Nguồn
cảm hứng đầu tiên ấy đã làm cơ sở cho một loạt những cảm xúc khác thành hình.
Như một khu rừng mùa thu yên tĩnh được một cơn gió thổi bùng lên đánh thức lớp
lá vàng dậy, tâm hồn tôi đã bắt đầu biết xôn xao theo những tín hiệu, dù nhỏ nhất
của cuộc sống. Tôi không còn nhìn ngắm cuộc sống một cách lơ đãng như trước nữa
mà càng lúc càng thấy mình bị cuốn hút về phía những tình cảm phức tạp của con
người.
Những
trái cây đầu mùa ấy còn vụng về, chưa có vóc dáng riêng, nhưng nó mang đến niềm
thích thú để từ đó sẵn lòng làm một cuộc hành trình dài lâu đi vào cái bề sâu của
âm thanh và ngôn ngữ.
Gặp gỡ
Năm
64 – 65, tôi được các bạn tổ chức buổi ra mắt đầu tiên trước quần chúng tại khu
đất trống sau lưng trường Văn Khoa Sài Gòn cũ (nay là Thư viện Quốc gia).
Với
tôi, đây cũng là buổi thể nghiệm xem mình có thể tồn tại trong lòng quần chúng
được không. Trước mặt đám đông đến mấy nghìn người gồm đủ thành phần văn nghệ
sĩ, trí thức, học sinh, sinh viên tôi cảm thấy mình quá trơ trọi và đầy lo âu
trên bục gỗ với cây đàn guitar dưới ánh sáng đèn. Với một hành trang nhẹ nhàng
bằng hai mươi ca khúc nói về quê hương, ước mơ hòa bình và những bài sau này được
gọi là “phản chiến”, tôi đã cố gắng hết sức để một mình đảm nhận vai trò đưa nỗi
lòng của mình đến với quần chúng. Buổi hát đã để lại một ấn tượng khá tốt đẹp
cho cả người trình bày lẫn người nghe.
Trong
buổi diễn có một bài hát được yêu cầu hát đến lần thứ tám và cuối cùng mọi người
tự động hát theo. Sau buổi diễn tôi đã được “bồi dưỡng” bằng một tiếng đồng hồ
ngồi ký tên trên những trang giấy của tập bài hát quay roneo dành cho người
nghe.
Đó
là buổi gặp gỡ đầu tiên giữa người sáng tác và người nghe. Những buổi trình diễn
nối tiếp ở các giảng đường đại học khác cũng được lặp lại trong một bầu không
khí nồng nhiệt như thế. Trong tôi bắt đầu sáng lên một khái niệm: đó là ý thức
về trách nhiệm của người sáng tác đối với công chúng.
Thuở ấy Nhị Xuân. Em ở nông trường. Em ra biên giới.
Đêm
Nhị Xuân không còn thấy rõ màu đất đỏ và những bãi mía, bãi dứa cùng lán trại
cũng khoác một màu áo khác. Mưa xuống. Hội trường dã chiến như một cái rá lọc
nước thả xuống những giọt dài. Chúng tôi (Phạm Trọng Cầu, Trần Long ẩn và tôi…)
cùng anh em thanh niên xung phong nam nữ hát với nhau dưới một bầu trời được
trang trí lạ mắt như thế. Đêm cứ dài ra và những tiếng hát cứ dài ra. Nước ở
con kênh dâng lên. Mặc kệ. Cứ đứng, cứ ngồi, cứ hát. Gần khuya có cô gái thanh
niên xung phong nhanh nhẹn vui tươi mang cho chúng tôi những bát cháo gà trước
khi chia tay. Những khuôn mặt ấy, tôi đã quen đã nhìn thấy nhiều lần. Một giờ
khuya, lên xe giã từ Nhị Xuân, lòng còn âm vang tiếng cười, tiếng hát. Những
bàn tay siết chặt, những cái vẫy tay trong đêm không nhìn thấy. Quá giờ giới
nghiêm, xe nằm lại giữa đường, không được vào thành phố. Ngủ lại chờ sáng. Về lại
thành phố, trở lại công việc thường ngày. Nhưng ở Nhị Xuân, có hai mươi người
con gái thanh niên xung phong đi về phía khác. Mấy tháng sau, tôi được tin tất
cả hai mươi khuôn mặt tôi đã nhìn, đã gặp trong đêm hôm nào ở Nhị Xuân cùng
nhau ca hát, đã hy sinh ở biên giới Tây Nam. Những tiếng hát, giọng cười còn
đó. Những cây mía, cây dứa các bạn trồng vẫn còn đó, vẫn lớn lên. Tôi bồi hồi
nhìn ra quãng trời rộng và thấy lại trong trí nhớ những con người trẻ trung ấy.
Trong những trái tim ấy có gì khác chúng ta không. Trong giấc ngủ ban đêm, trên
những vầng trán khỏe mạnh ấy, đã có những cơn mơ nào. Chúng ta nói quá nhiều đến
sự tròn đầy và chúng ta quên đi sự mất mát. Chúng ta vẽ ra lắm nụ cười mà quên
đi những nỗi ngậm ngùi riêng tư. Những người bạn nhỏ ấy đã ra đi vĩnh viễn,
nhưng nỗi nhớ thương về họ chưa được hát đủ như một nỗi đau. Còn thiếu sót biết
bao nhiêu điều chưa nói hết lúc ở nông trường và càng chưa nói được một mảy may
lúc ra biên giới. Làm một điều gì chưa đến nơi đến chốn với một người không còn
nữa, có phải cũng là có lỗi với cuộc đời rồi hay không. Xin hãy tha thứ những
dòng chữ óng mượt, những sắp xếp tinh khôn, những cân nhắc đong đo xuôi chèo
thuận lái.
Thông điệp
Mỗi
người đều có một cách riêng và một lý do riêng khi đến với nghệ thuật. Cánh cửa
mở ra, chúng ta bước vào. Có những cánh cửa rộng hẹp không đều nhau. Có những
cách nhìn và lòng đam mê không giống nhau. Và làm sao có thể giống nhau được
khi bản chất của nghệ thuật là một đòi hỏi miên man cái muôn hình vạn trạng. Từ
đó hình thành tính cách của mỗi con người muốn lân la kết tình bằng hữu với nghệ
thuật.
Có
một điều chắc chắn là không có ai làm nghệ thuật một cách không nghiêm túc. Con
người còn lắm chỗ, lắm nơi để bày ra những trò phù phiếm. Tuy nhiên, cũng có
không ít những người quan niệm rằng làm nghệ thuật không vì một mục đích nào cả
nghĩa là muốn hoàn thành một thứ nghệ thuật không có cứu cánh.
Đã
từ lâu tôi muốn qua ca khúc nói được thật nhiều điều. Tôi không chọn ca khúc
như một chặng đường để rồi sau đó tu dưỡng hòng nhảy vào những thể loại to lớn
hơn. Ca khúc đối với tôi là một mô hình gần gũi, thiết thân và hoàn chỉnh. Nó
là một cuộc hôn phối kỳ diệu giữa thi ca và âm nhạc.
Ở
nơi nào trên mặt đất này có con người, ở đó có tiếng hát. Con người có thể hát
một mình ở bất kỳ nơi đâu. Ca khúc là nỗi lòng của một con người trong cuộc sống.
Cuộc tình giữa âm nhạc và văn học này đã khiến ca khúc tự nó có thể chạm đến mọi
bờ cõi tri thức của đời sống con người. Nó đủ khả năng hát về một cái chồi non
vừa nhú cho đến cái chết của một con người. Nó chính là tiếng chim buổi sáng,
tiếng gà gáy trưa bên đồi mang âm vang của một nỗi nhớ nhung. Nó là nắng, là
mưa, là nụ cười, là tiếng khóc. Nó ở cùng với điều nhỏ nhất và đồng thời cũng sống
chung với những cõi bờ bao la.
Đọc thêm bài viết Để bắt đầu một hồi ức của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn.
Tôi
chưa bao giờ cảm thấy ca khúc bối rối trước những điều tưởng không nói được. Nó
đã đi qua bao nhiêu mùa mang giữa lòng cuộc sống con người và thường nó có mặt
bên cạnh con người như một lời an ủi. Cũng vì thế, tôi đã có lần nuôi tham vọng
gán ghép cho ca khúc một cái gì đó lớn hơn, tràn đầy ra ngoài cái hình thể nhỏ
nhắn và khiêm tốn của nó. Đó chính là sứ mệnh truyền đạt những âu lo, những chờ
đợi của con người khi đối diện với chính mình trước cuộc sống. Nó có bổn phận
phải cưu mang trong từng dòng nhạc dòng chữ cái phần tinh khiết nhất của hạnh
phúc và bất hạnh. Như vậy, ca khúc ngoài cái vai trò mua vui cũng được một vài
trống canh, nó còn phải đảm nhiệm cái sứ mệnh đẹp đẽ mà các anh chị em họ hàng
nghệ thuật của nó đã và đang làm.
Tôi
nghe một tiếng hát và tôi thấy lại cả một khoảng trời đầy kỷ niệm. Tiếng hát đi
từ tôi đến anh bằng con đường ngắn nhất. Cái khả năng to lớn sau cùng của ca
khúc là mang đến sự cảm thông giữa mọi người bằng tiếng hát. Tôi ước mơ một
ngày nào đó trên hành tinh này tiếng hát sẽ được trả về với vẻ đẹp thuần khiết
của nó. Đó là tiếng hát bay qua các lục địa, các đại dương, mang trong lòng nó
tình yêu và tình nhân ái. Cái sứ mệnh huy hoàng nhất của nó là phải mang được
cái thông điệp ấy đến với từng con tim. Không những chỉ với những tâm hồn vốn
yêu chuộng hòa bình mà cả những con tim đang ngộ độc bởi những ngòi thuốc nổ.
Đọc thêm các bài viết khác của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn.
Trịnh
Công Sơn
(Báo
Đại đoàn kết)

0 comments:
Post a Comment