Trong
số những công thần lập quốc của Mỹ, hiếm có vĩ nhân nào để lại một di sản địa-chính
trị và tư tưởng đầy vinh quang nhưng cũng lắm nghịch lý như Tổng thống thứ ba
Thomas Jefferson. Được biết đến như một biểu tượng bất tử của khát vọng tự do,
người đã trực tiếp đặt bút soạn thảo bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776, Jefferson
đã đặt nền móng tư tưởng cho một hệ thống chính trị vì người nghèo và trao quyền
lực vào tay đại đa số người dân bình thường.
![]() |
| Thomas Jefferson |
Ông
trọn đời theo đuổi lập trường chống quyền lực chuyên chế, bảo vệ quyền tự quyết
của các tiểu bang và luôn hoài nghi sự phình to quyền lực của chính phủ liên
bang. Thế nhưng, khi bước lên đỉnh cao quyền lực trong hai nhiệm kỳ Tổng thống từ
năm 1801 đến năm 1809, Jefferson buộc phải đưa tư tưởng đó của mình vào lò lửa
của những nhu cầu thực tế. Chính tại đây, ông đã có một sự thay đổi đầy kinh ngạc,
định hình nên mô hình quyền lực của nước Mỹ và kéo dài cho đến tận ngày nay.
Viết
về cuộc đời Thomas Jefferson là một điều khó khăn, bởi tầm vóc của nhân vật này
và những tư tưởng, hành động, sự kiện đã xảy ra trong suốt cuộc đời ông. Do đó,
chúng tôi không thể và không muốn rút ngắn nội dung đăng tải, bởi đến tận những
giây phút cuối cùng của cuộc đời, tính bất ngờ và sự ảnh hưởng của các sự kiện
là vẫn không hề nhỏ. Vì thế, chúng tôi đã viết về cuộc đời ông như một bài tiểu
luận, được chia thành 5 phần và sẽ lần lượt đăng tải trên VnTimeless.
Bối cảnh thời đại
Mặc
dù các bằng chứng khảo cổ hiện đại đã chứng minh rằng, vào khoảng thế kỷ XI,
người Viking mới là những người Châu Âu đầu tiên đặt chân đến Tây Bán Cầu,
nhưng Christopher Columbus lại đóng vai trò là người tiên phong mở đường cho Kỷ nguyên Khai phá (Age of Discovery).
Chuyến hải hành năm 1492 của ông không chỉ là một cuộc thám hiểm đơn thuần, nó
đã mở ra sự kết nối vĩnh viễn không thể đảo ngược giữa hai bán cầu, mở đường
cho giai đoạn thuộc địa hóa châu Mỹ của người châu Âu. Virginia và phần duyên hải
phía đông của lục địa, về cơ bản vẫn nằm ngoài tầm kiểm soát của thực dân
phương Tây cho đến tận cuối thể kỷ XVI.
Sự
tranh giành quyền lực giữa các quốc gia châu Âu đã phân chia châu Mỹ thành ba
vùng chiến lược rõ rệt. Người Tây Ban Nha đến sớm nhất và tập trung đánh chiếm
các khu vực giàu có, đông dân ở phía nam và phía tây châu Mỹ. Người Pháp đi sâu
vào nội địa thông qua các hệ thống đường thủy lớn. Còn người Anh mở rộng thuộc
địa của mình dọc theo một dải đất hẹp ở rìa phía đông lục địa Bắc Mỹ. Chính dải
đất ven biển Đại Tây Dương này sau đó đã phát triển thành 13 bang thuộc địa đầu
tiên lập quốc.
Năm
1584, nhà thám hiểm lỗi lạc Sir Walter Raleigh được Nữ hoàng Anh Elizabeth I cấp
phép đi tìm vùng đất mới ở Bắc Mỹ. Để thể hiện lòng tôn kính và lấy lòng Nữ
hoàng, Raleigh đã dùng danh hiệu The
Virgin Queen nổi tiếng của bà để đặt tên cho toàn bộ dải đất bao la vùng
duyên hải phía đông này là “Virginia”
- nghĩa là “Vùng đất của Nữ hoàng đồng trinh”. Sau này, công ty Virginia cũng
được đặt tên theo cùng ý nghĩa. Virginia là một vùng đất rộng lớn trải dài đến
sông Mississippi, bao phủ phần lớn vùng Đông Nam nước Mỹ ngày nay.
Chuyến
đi được thực hiện vào năm 1585, trong đoàn thám hiểm do Walter Raleigh tổ chức
có nhà toán học, thiên văn học và triết học Thomas Hariot (hoặc Harriot). Chính
nhà khoa học này đã xuất bản cuốn sách “A Briefe and True Report of the New Found
Land of Virginia” (Báo cáo ngắn ngọn và chân thực về vùng đất mới Virginia)
vào năm 1588, đây là văn bản đầu tiên về Bắc Mỹ được viết bởi một người Anh từng
thật sự đặt chân đến đó. Khi được tái bản năm 1590 cùng các bức tranh minh họa
của John White, tác phẩm không chỉ trở thành một công cụ gọi vốn hiệu quả cho
các kế hoạch thực dân, mà còn trực tiếp định hình tư duy của giới tinh hoa Anh
về một vùng đất hứa, mở đường cho sự ra đời của Công ty Virginia và thuộc địa
Jamestown sau này.
Lúc
này, vua James I của Anh không muốn dùng ngân khố quốc gia để mạo hiểm tài trợ
cho các chuyến thám hiểm. Kế hoạch thuộc địa hóa của người Anh tại Bắc Mỹ được
tổ chức theo mô hình đầu tư kinh tế tư nhân, hoạt động theo dạng công ty cổ phần,
lần đầu tiên được Hoàng gia Anh cấp phép để thuộc địa hóa Bắc Mỹ. Năm 1606,
Công ty Virginia (Virginia Company) được thành lập dưới hiến chương của vua
James I. Công ty Virginia được chia thành Virginia chi nhánh London - phụ trách
vùng phía nam Bắc Mỹ, và Virginia Plymouth - phụ trách vùng phía bắc Bắc Mỹ. Dù
kế hoạch ở vùng phía bắc nhanh chóng thất bại, thì ở vùng phía nam đã thành
công và do đó, đặt nền móng vững chắc cho cấu trúc thực dân Anh bằng việc thiết
lập thuộc địa Jamestown vào năm 1607. Sự thay đổi từ một dự án thương mại thuần
túy của các cổ đông London sang một xã hội điền trang tự trị, có luật pháp và
nghị viện riêng (Viện Dân biểu lập năm 1619) chính là tiền đề then chốt kiến tạo
nên thể chế chính trị đặc trưng của Virginia.
Tháng
12 năm 1606, Công ty Virginia chi nhánh London đã cử 3 con tàu Susan Constant,
Godspeed và Discovery chở theo 104 người vượt Đại Tây Dương. Ngày 14 tháng 5
năm 1607, họ chọn một bán đảo nằm sâu trong đất liền khoảng 64 km dọc theo sông
James để định cư và đặt tên là Jamestown (đều được đặt theo tên Vua James I).
Cuộc
sống ban đầu của những người định cư đầy ắp khó khăn, họ đối diện với bệnh tật
và tình trạng thiếu thực phẩm. Đỉnh điểm là mùa đông năm 1609-1610, từ một thuộc
địa khi đó đã có khoảng 500 người, cái đói và bệnh tật càn quét chỉ còn lại khoảng
60 người sống sót. Họ đã phải ăn thịt ngựa, chó, mèo, rễ cây và thậm chí cả người
chết để duy trì sự sống.
Sự
sắt đá của thuyền trưởng John Smith đã dẫn dắt những người định cư vượt qua khó
khăn, đồng thời thiết lập mối quan hệ với Liên minh Powhatan - hệ thống gồm khoảng
30 bộ tộc thổ dân do tù trưởng Powhatan đứng đầu. Sau đó, một người định cư là
John Rolfe đã kết hôn với Pocahontas -
con gái của tù trưởng Powhatan. Mối quan hệ này mới trở nên vững chắc
hơn nhưng các cuộc xung đột lẻ tẻ vẫn tiếp tục xảy ra giữa những người định cư
và người bản địa trong nhiều thập kỷ sau đó. Tuy nhiên, nhờ mối quan hệ này và
nhờ sự tiếp tế ngô của thổ dân, người Anh mới vượt qua được những khó khăn và dần
ổn định. Jamestown chỉ thực sự đứng vững và tìm thấy lối thoát kinh tế khi John
Rolfe lai tạo thành công một giống cây thuốc lá ngọt nhẹ từ vùng Caribe vào đất
Virginia năm 1612. Thuốc lá nhanh chóng trở thành “vàng đen”, đem đến nguồn lợi
xuất khẩu khổng lồ cho Công ty Virginia. Để phục vụ ngành trồng trọt thâm canh
này, thuộc địa bắt đầu cần một lượng lớn lao động, dẫn đến việc đưa những người
lao động khế ước từ Anh sang và đặc biệt là sự xuất hiện của những người Phi da
đen đầu tiên vào năm 1619.
Công
ty Virginia bị tước giấy phép hoạt động vào năm 1624 và giải thể hoàn toàn vào
năm 1630. Trong những thập kỷ tiếp theo, thuộc địa Virginia đặt dưới sự quản lý
của Hoàng gia Anh, với một cơ quan lập pháp địa phương được gọi là Viện Dân biểu
(House of Burgesses). Viện Dân biểu chịu sự giám sát của các Thống đốc do Hoàng
gia Anh bổ nhiệm, và cuối cùng nằm dưới quyền trị vì tuyệt đối của nhà vua. Hệ
thống này bị suy yếu bởi cuộc nội chiến Anh, và sau cuộc Cách mạng Quang Vinh
(1688), Viện Dân biểu đã trở thành một đối trọng mạnh mẽ với Thống đốc hoàng
gia bằng cách khẳng định quyền quyết định ngân sách và thuế khóa nội bộ.
Trong
thời kỳ thuộc địa, Virginia giống như một đế quốc nhỏ của một đế chế lớn, luôn
tuyên bố chủ quyền của mình với nhiều vùng đất khác nhau trên lục địa Mỹ. Đây
là nơi sinh sống của một tầng lớp chủ đất quyền lực, những người duy trì và
phát triển lợi ích của mình thông qua chế độ nô lệ. Dần dần, một tầng lớp quý tộc
lâu đời đã hình thành, cắm rễ và củng cố vị thế tại vùng Tidewater trù phú, trước
khi làn sóng khai hoang mở rộng dòng máu quý tộc này lan về phía Tây. Đó chính
là thuộc địa Virginia, nơi Thomas Jefferson được sinh ra tại vùng biên viễn
Piedmont.
Là
một người lớn lên tại vùng biên viễn, Jefferson nhận thức sâu sắc bức tranh
toàn cảnh của châu Mỹ, nơi nhiều cường quốc châu Âu đang không ngừng tranh
giành quyền kiểm soát. Người Anh đã khẳng định vị thế tối thượng của mình tại lục
địa này sau cuộc Chiến tranh Bảy năm. Nhưng đồng thời họ cũng phải gánh chịu những
khoản nợ khổng lồ. Cùng với đó, công ty Đông Ấn tại Ấn Độ đang gặp khủng hoảng
tài chính trầm trọng, ngân khố Hoàng gia rơi vào tình trạng kiệt quệ. Trước
tình thế đó, chính quốc bắt đầu hướng mắt về các thuộc địa Mỹ với hy vọng bù đắp
nguồn thu thông qua việc áp đặt các chính sách thuế khóa.
Sự
áp đặt đó từ Quốc hội Anh không hề được đón nhận êm đẹp tại các thuộc địa Mỹ.
Và chẳng bao lâu sau, những bất bình dần tích tụ và bùng lên thành một cuộc
cách mạng. Với sự hỗ trợ quân sự của Pháp, phe nổi dậy Mỹ đã chiến thắng trong
cuộc Chiến tranh Cách mạng. Trên thực tế, mặc dù người Mỹ tuyên bố độc lập vào
năm 1776 và chính thức thiết lập nền độc lập vào năm 1783, về cơ bản họ vẫn phụ
thuộc vào các cường quốc châu Âu trong vài thập kỷ tiếp theo với tư cách một quốc
gia có chủ quyền.
Do
lo sợ chính phủ trung ương nắm quá nhiều quyền lực, ban đầu Mỹ đã tổ chức đất
nước theo mô hình liên minh các bang độc lập, liên minh này mang tính chất lỏng
lẻo và tuân theo các điều khoản liên bang (Articles of Confederation). Cách thức
này nhanh chóng bộc lộ sự kém hiệu quả trong quản trị, từ đó dẫn đến một cuộc cải
tổ thể chế toàn diện với việc thông qua bản Hiến pháp Mỹ, chính thức được phê
chuẩn vào năm 1788. Hai vị tổng thống đầu tiên, George Washington và John Adams
đã vận hành nền cộng hòa mới với mục tiêu củng cố quyền lực của chính quyền
liên bang, đảm bảo rằng các quyết định từ trung ương có sức nặng tối cao và các
bang bắt buộc phải tuân thủ.
Dù
là người đứng đầu phe đối lập (Đảng Dân chủ - Cộng hòa) chống lại Washington và
Adams để bảo vệ quyền tự trị của các bang, Jefferson trên cương vị Tổng thống
thứ ba lại làm được nhiều hơn cả những người tiền nhiệm trong việc củng cố quyền
lực tối cao của chính phủ liên bang. Thông qua vụ mua lại vùng đất Louisiana và
Đạo luật Cấm vận, Jefferson đã tạo ra một sự ảnh hưởng về tài chính và chính trị
chưa từng có, mang lại cho chính phủ liên bang một vị thế vững chắc không thể
lay chuyển mà đến ngày nay quốc gia này vẫn thụ hưởng. Tuy nhiên, trong khi Mỹ
tiếp tục thịnh vượng sau Cuộc chiến năm 1812, sóng gió đã bắt đầu chực chờ
trong các cuộc xung đột sắp tới giữa phe bãi bỏ nô lệ và những chủ nô lớn.
Jefferson
chưa bao giờ có thể tự giải quyết triệt để vấn đề nô lệ, ông đã để lại sự xung
đột đó cho các thế hệ tiếp theo. Cuối cùng, phải trải qua lò lửa của một cuộc nội
chiến tàn khốc, vấn đề nô lệ mới đi đến lời giải cuối cùng. Chỉ thông qua tiến
trình đau đớn này, Mỹ mới chính thức được nhào nặn để trở thành một thể thống
nhất, bất khả xâm phạm như chúng ta thấy ngày nay.
Thời thơ ấu của Thomas Jefferson (1743 - 1766)
Thomas
Jefferson sinh ngày 13 tháng 4 năm 1743, là con của ông Peter và bà Jane
Randolph Jefferson. Ông sinh ra tại điền trang của gia đình ở Shadwell, nơi
ngày nay thuộc quận Albemarle, Khối thịnh vượng chung Virginia, nằm dọc bờ sông
Rivanna. Đây là vị trí có ý nghĩa đặc biệt đối với một người thuộc tầng lớp quý
tộc, bởi nó nằm trong vùng Piedmont thưa thớt dân cư, giữa vùng duyên hải
Tidewater giàu có và dãy núi Blue Ridge thuộc vùng biên viễn xa xôi. Phù hợp với
xuất thân từ vùng đất giáp ranh này, suốt cuộc đời Jefferson luôn giữ vị thế
chính trị và tâm thế cân bằng, giữa một bên là trách nhiệm gánh vác vị thế quý
tộc thượng lưu đặc quyền, với một bên là tiếng gọi của tự do và tinh thần khai
phóng từ những vùng đất mới chưa được khai phá.
Peter
Jefferson là một người tự học và đa tài, ông chuyển từ vùng Tidewater đến vùng
Piedmont từ khi còn trẻ. Tại đây, ông trở một nhà vẽ bản đồ và đo đạc địa chính
có tên tuổi. Ông từng góp công xác định đường ranh giới giữa Bắc Carolina và
Virginia. Nhờ uy tín và danh tiếng trong công việc, sau này ông được bổ nhiệm
làm trưởng hạt, đại tá dân binh, và cuối cùng là đại biểu tại Viện Dân biểu.
Jane
Randolph Jefferson xuất thân từ một gia đình quý tộc hàng đầu vùng Tidewater,
có nguồn gốc lâu đời tại Anh và Scotland, gia phả cho rằng bà là hậu duệ của
nhiều dòng tộc hoàng gia châu Âu, thậm chí xa xưa đến tận thời Charlemagne. Còn
Peter Jefferson được cho là hậu duệ của một dòng dõi vua xứ Wales. Thoạt nhìn,
nguồn gốc hiển hách như vậy thường là niềm tự hào của bất cứ ai, nó có sức quyến
rũ nhất định đối với bất kỳ đứa trẻ nào, và đó là điều không dễ gì phai nhạt
theo thời gian. Nhưng đối với Thomas Jefferson, dường như ông chẳng mấy để ý đến
điều đó, vì khi trưởng thành ông đã thấm nhuần sâu sắc tư tưởng của chủ nghĩa
bình đẳng.
Dù
gia tộc Jefferson đã định cư tại Virginia từ những ngày đầu thời thuộc địa,
nhưng họ vẫn giữ nguyên bản sắc Anh qua nhiều thế hệ. Jane Randolph là người
sinh ra tại London, đã có ảnh hưởng đến việc Peter Jefferson đặt tên điền trang
Shadwell theo tên vùng đất nơi bà chào đời. Điền trang này cùng với các tài sản
khác của gia đình đôi bên, đều được xây dựng theo thiết kế mang đậm phong cách
Anh. Tuy nhiên, bất chấp điều đó cùng những nỗ lực khác nhằm duy trì gốc gác của
mình, cuộc sống nơi biên viễn vẫn tạo ra những tác động làm phai nhạt dần ảnh
hưởng của nó. Hàng xóm xung quanh vô cùng thưa thớt, những người sống gần đó chủ
yếu là người bản địa. Để duy trì bản sắc Anh của mình, một lộ trình giáo dục
theo lối cổ điển đã được gia đình sắp xếp để chăm lo việc học hành cho cậu bé
Jefferson.
Năm
1745, khi Jefferson được 2 tuổi, gia đình ông đã chuyển từ Shadwell đến điền
trang Tuckahoe của ông William Randolph gần đó - một người bạn thân thiết của
Peter Jefferson đồng thời là anh họ của bà Jane. Họ sống ở đó 7 năm tiếp theo để
trông nom điền trang giúp gia đình William Randolph. Trong suốt thời gian này,
gia đình đã thuê một gia sư riêng và dựng lên một ngôi trường gia đình để giáo
dục các con em nhà Jefferson và Randolph. Sau khi trở về Shadwell vào năm 9 tuổi,
Jefferson theo học mục sư người Scotland William Douglas. Bên cạnh việc đặt nền
tảng cho con đường trưởng thành của Jefferson, Douglas còn để lại một nét đặc
trưng khá biệt lập là khiến Jefferson nói tiếng Pháp bằng giọng Scotland.
Lối
sống thôn dã trong những năm tháng thơ ấu của Jefferson, ngay tại vùng biên viễn
của các khu định cư châu Âu, có lẽ đã phần nào hun đúc tình yêu của ông dành
cho thiên nhiên và lịch sử tự nhiên. Thêm vào đó, những quan sát về điền trang
của gia đình ngày càng được mở rộng đã góp phần khơi gợi tài năng kiến trúc của
ông. Cùng với đó, thói quen say mê đọc sách cùng năng khiếu chơi đàn vĩ cầm của
ông đều được hình thành trong những năm tháng tuổi thơ này. Đặc biệt, tầm ảnh
hưởng từ người cha, với tư cách là một đại biểu danh tiếng tại Viện Dân biểu, kết
hợp với những di sản chính trị lâu đời từ gia tộc ngoại Randolph, chắc chắn đã
sớm vạch ra con đường chính trị như một sự nghiệp tất yếu cho Jefferson.
Cuộc
sống bình yên nơi thôn dã của gia đình ông đột ngột khép lại vào năm 1757, khi
người cha Peter Jefferson qua đời ở tuổi 50. Jane Randolph Jefferson trở thành
góa phụ ở tuổi 37, còn Thomas Jefferson phải gánh vác trách nhiệm lớn lao khi mới
14 tuổi. Trong di chúc của mình, Peter Jefferson không tuân theo truyền thống
trưởng nam thừa kế toàn bộ sản nghiệp, nhưng ông vẫn để lại cho con trai trưởng
phần tài sản quan trọng khi đủ trưởng thành ở tuổi 21. Trong 7 năm tiếp theo,
khối di sản này, bao gồm 2.500 mẫu Anh đất đai và hơn 20 nô lệ, được quản lý bởi
một hội đồng giám hộ. Mặt khác, mối quan hệ không mấy hòa hợp và sự quản thúc từ
người mẹ vừa góa bụa cũng khiến Jefferson luôn cảm thấy ngột ngạt trong chính
ngôi nhà mình.
Ngay
sau cái chết của cha mình, để tiếp tục sự nghiệp học hành và thoát khỏi sự ngột
ngạt của gia đình, Jefferson đã trở thành học sinh nội trú của mục sư James
Maury trong 2 năm từ 1758 đến 1760. Trường học tại nhà riêng của Maury, hạt
Albemarle, gần Charlottesville, không xa Shadwell. Vào thời điểm này, Maury
cũng là gia sư cho Dabney Carr - người bạn thân và sau này trở thành anh rể của
Jefferson. Trường học của Maury là cái nôi đào tạo ra hai tổng thống tương lai
của nước Mỹ, bao gồm Thomas Jefferson và James Monroe. Tại đây, ông được đào tạo
về lịch sử, khoa học và đặc biệt là các ngôn ngữ cổ điển như tiếng Latinh và Hy
Lạp.
Trong
hai năm ở với Maury, Jefferson về nhà vào mỗi cuối tuần để giúp mẹ và các anh
chị em chăm lo công việc ở điền trang Shadwell. Tháng 3 năm 1760, chuẩn bị bước
sang tuổi 17, sau khi kết thúc hai năm học với mục sư Maury, ông đã dứt khoát
hơn trong việc thoát khỏi những ràng buộc của gia đình để đi xa 150 dặm tới
Williamsburg - trung tâm của vùng Tidewater - theo học tại Đại học William
& Mary. Mặc dù Williamsburg là nơi sầm uất, đông dân và đa văn hóa hơn vùng
biên viễn Piedmont, thị trấn này vẫn chưa phải là một đô thị phồn hoa. Vào năm
1760, nơi đây chỉ có vỏn vẹn khoảng một nghìn cư dân, còn trường đại học mới chỉ
có ba tòa nhà, hội đồng giảng viên mới chỉ gồm một hiệu trưởng và sáu giáo sư.
Tại
trường đại học ông đã gặp giáo sư William Small - người có ảnh hưởng nhiều nhất
tại trường và đã dạy ông các môn toán, vật lý và triết học. Giáo sư Small đã giới
thiệu cho Jefferson những tư tưởng của các nhà triết học Khai sáng Anh như John
Locke, Francis Bacon và Isaac Newton. Cũng chính Small đã nhận ra tài năng
thiên bẩm của Jefferson và giới thiệu ông vào nhóm học thuật tinh hoa của thuộc
địa. Chẳng mấy chốc, Jefferson đã thường xuyên dùng bữa cùng Phó thống đốc hoàng
gia Francis Fauquier, nhà triết học William Small, và luật sư George Wythe. Tất
cả họ đều lớn hơn ông ít nhất một thế hệ. Ba người đàn ông này đều mang đậm
phong thái châu Âu, và họ đã góp công lớn hơn bất kỳ chương trình học chính quy
nào trong việc đưa một Jefferson trẻ tuổi bước vào thế giới của giới tri thức
tinh hoa.
Năm
1762, sau khi kết thúc 2 năm đại học, Jefferson đã dành thêm 5 năm (1762 -
1767) nghiên cứu luật dưới sự hướng dẫn của luật sư lỗi lạc George Wythe. Vào
thời kỳ đó, các thuộc địa Anh tại Bắc Mỹ chưa có các trường đào tạo luật chính
quy. Theo lời khuyên của Wythe, Jefferson hình thành và duy trì thói quen lập
các sổ tay trích dẫn kiến thức (Cmommonplace Books) suốt đời. Đây là những năm
tháng học tập với cường độ cao nhất của Jefferson, nơi ông tích lũy một khối lượng
tri thức đồ sộ về triết học và lý thuyết chính trị nhằm bổ trợ cho chương trình
học luật. Bên cạnh đó, ông cũng nghiên cứu sâu các tác phẩm lịch sử, văn học,
phê bình, cùng nghệ thuật hùng biện và diễn thuyết. Mặc dù sau này là người bác
bỏ các luận thuyết của Plato, những nền tảng tri thức cổ điển vẫn đóng vai trò
không thể thay thế trong việc định hình tư duy của Jefferson.
Năm
1764, khi chính thức bước sang tuổi 21, Jefferson tiếp quản khối tài sản 2.500
mẫu Anh đất đai do người cha quá cố để lại và chính thức gia nhập vào tầng lớp
điền chủ thượng lưu của Virginia. Dù dành phần lớn thời gian bên các bậc tiền bối
uyên bác, ông cũng mở rộng giao thiệp với những người bạn đồng trang lứa. Ông
đã ở chung phòng với John Tyler trong một thời gian dài - người sau này là cha
của vị Tổng thống thứ 10 của Mỹ. Cũng trong giai đoạn này, Jefferson trải qua mối
tình đầu sâu sắc với một thiếu nữ 16 tuổi tên là Rebecca Burwell. Tuy nhiên, cô
gái có nhiều người theo đuổi này đã từ chối lời tỏ tình của ông. Chán nản từ cú
sốc thất tình đã cổng hưởng và kích phát căn bệnh đau nửa đầu, một chứng bệnh
mãn tính kéo dài và thỉnh thoảng lại tái phát để hành hạ ông suốt quãng đời còn
lại.
Do
tình trạng sức khỏe, chuyến đi châu Âu đã lên kế hoạch từ trước của ông phải hủy
bỏ. Thay vào đó là một chuyến đi ngắn qua các thuộc địa của khu vực miền Trung,
bao gồm những kỳ nghỉ tại Annapolis, Philadelphia và New York. Hành trình này
không chỉ giúp ông mở rộng tầm mắt sau những năm tháng ở Virginia ít tiếp xúc với
thế giới bên ngoài, mà còn phần nào xoa dịu nỗi đau thất tình cùng mất mát to lớn
trước sự ra đi của người chị gái Jane mà ông vô cùng yêu quý.
Jefferson
đã có những trải nghiệm thực tế vượt ra ngoài những kiến thức sách vở hạn hẹp của
vùng quê biên viễn. Ông đã dự thính một phiên họp tại cơ quan lập pháp thuộc địa
Maryland, được chủng ngừa bệnh đậu mùa theo phương pháp tân tiến thời bấy giờ,
và đã giao lưu, cọ xát với nhiều người thuộc đủ mọi tầng lớp và nguồn gốc khác
nhau. Đáng chú ý nhất, Jefferson đã thiết lập được nhiều mối quan hệ chính trị quan trọng trong các chuyến đi của
mình, trong đó có cả cuộc gặp gỡ lần đầu với chàng trai trẻ Elbridge Gerry tại
New York - một trong những nhà lập quốc quan trọng và là người đồng chí kiên định
của Jefferson.
Năm
1767, khi trở về Williamsburg, Jefferson hoàn tất chương trình nghiên cứu luật
và được kết nạp vào luật sư đoàn. Trong suốt 5 năm từ 1762 đến 1767, ông là người
học việc và “đọc luật” (read the law) dưới sự hướng dẫn của luật sư George
Wythe. Trên cương vị luật sư, Jefferson nhanh chóng tạo dựng được tiếng vang lớn
trong giới luật sư thuộc địa. Bên cạnh đó, nhằm củng cố nền tảng kinh tế gia tộc,
ông cũng bắt đầu thực hiện các kế hoạch mở rộng điền trang, quy hoạch đất đai
nhằm tối ưu hóa và gia tăng giá trị tài sản của mình.
Giờ
đây, khi chính thức bước tới tuổi trưởng thành và nắm trọn quyền quản lý điền
trang Shadwell, Jefferson bắt đầu san lấp một đỉnh núi gần đó để xây dựng ngôi
nhà cho riêng mình, nơi sau này chính là dinh thự Monticello. Trong khi nền
móng cho dinh thự đó chỉ mới bắt đầu, thì những nền tảng cho sự vươn lên thành
một nhà chính trị lập quốc kiệt xuất đã được bồi đắp vững chắc.
Những năm đầu sự nghiệp (1766 - 1770)
Trong
những năm đầu làm luật sư, Jefferson dành thời gian cho cả điền trang Shadwell
và hoạt động tranh tụng tại thủ phủ Williamsburg. Ông vừa hành nghề luật, vừa
quán xuyến điền trang và trực tiếp giám sát quá trình xây dựng dinh thự
Monticello. Ông di chuyển liên tục qua các tòa án hạt thuộc địa để giải quyết
nhiều vụ án khác nhau, chủ yếu liên quan đến tranh chấp đất đai và khiếu nại giữa
chủ nợ và con nợ. Có những thời điểm, nghề luật đóng góp tới một nửa thu nhập của
Jefferson, đó là một tỷ lệ rất cao đối với giới luật sư điền chủ thời bấy giờ.
Uy
tín chuyên môn ngày càng cao kết hợp với vị thế của một địa chủ lớn thừa kế từ
gia tộc tại hạt Albemarle đã trở thành bệ phóng hoàn hảo cho sự nghiệp chính trị
của ông. Vào tháng 12 năm 1768, ở tuổi 25, Jefferson được bầu vào Viện Dân biểu
và chính thức nhậm chức vào tháng 5 năm 1769, nối nghiệp con đường lập pháp mà
người cha quá cố từng tham gia. Sự kết hợp giữa tư duy pháp lý sắc bén học được
từ ngành luật và nền tảng chính trị thực tế tại Viện Dân biểu đã chuẩn bị cho
Jefferson một hành trang vững chắc, biến ông trở thành một trong những ngòi bút
lập luận sắc sảo nhất của phong trào Cách mạng Mỹ sau này.
Ngay
sau khi nhậm chức vào tháng 5 năm 1769, chàng nghị sĩ trẻ Jefferson đã lập tức
bị cuốn vào vòng xoáy của cuộc khủng hoảng chính trị giữa thuộc địa và chính quốc.
Trong nhiều năm, căng thẳng giữa Thống đốc Hoàng gia và các nghị sĩ thuộc địa tại
Viện Dân biểu không ngừng gia tăng.
Khởi
nguồn của mâu thuẫn bắt đầu khi Hoàng gia cho rằng các thuộc địa đã hưởng lợi lớn
từ Cuộc chiến Bảy năm, do đó Quốc hội quyết định các thuộc địa phải có trách
nhiệm góp phần chi trả cho những thành quả hòa bình đó. Vì thế, vào năm 1765,
thông qua Đạo luật Tem (Stamp Act),
các khoản thuế trực thu đã lần đầu tiên được áp lên mọi tài liệu in ấn và giấy
gờ pháp lý tại thuộc địa. Toàn bộ doanh thu sẽ được chuyển về London nhằm mục
đích duy trì mạng lưới quân đội Hoàng gia tại Bắc Mỹ. Ngay lập tức, Vua George
III và Quốc hội Anh phải đối mặt với làn sóng phản đối sôi sục. Người dân thuộc
địa vốn dĩ chỉ quen với việc điều tiết thuế xuất nhập khẩu qua cảng biển, chứ
chưa từng chấp nhận một sắc thuế nội địa đánh trực tiếp vào các hoạt động đời sống
hàng ngày của họ.
Một
trong những sự phản đối mạnh mẽ nhất đối với Đạo luật Tem đến từ Viện Dân biểu.
Dưới sự thúc đẩy của nhà cách mạng Patrick Henry, một loạt các nghị quyết phản
đối đanh thép đã được thông qua và gửi đến Thống đốc goàng gia. Khi còn là một
sinh viên luật, Jefferson đã được chứng kiến những bài diễn thuyết đầy hùng hồn
của Henry nhằm bảo vệ quyền lợi hiến định của người dân thuộc địa trước sự can
thiệp từ chính quốc. Chỉ vài năm ngắn ngủi sau đó, ông đã chính thức sát cánh
bên Henry với tư cách đồng nghiệp, cùng lập kế hoạch đấu tranh chống lại các
chính sách thuộc địa ngày càng hà khắc do Vua George III và Quốc hội Anh ban
hành.
Cuộc
đấu tranh đòi quyền lợi này của phe thuộc địa mang bản chất của một cuộc đối đầu
về tư tưởng với những phương pháp hoàn toàn mới. Giống như Jefferson, Henry xuất
thân từ vùng biên viễn Piedmont và không
tìm thấy điểm chung với các phương thức tiếp cận ôn hòa, bảo thủ của giới quý tộc
cũ vùng Tidewater. Trong khi tầng lớp thượng lưu lâu đời có xu hướng thiên
về các biện pháp điều trần và kiến nghị mang tính thỏa hiệp, thì thế hệ lập
pháp mới từ vùng biên viễn lại cương quyết
phản kháng trực diện bằng những luận điểm hiến pháp đanh thép, mạnh mẽ chống
lại những gì họ xem là xâm phạm thô bạo vào quyền và lợi ích chính đáng của
mình.
Mặc
dù Đạo luật Tem đã bị bãi bỏ vào năm 1766, nhưng ngay năm sau đó, Quốc hội Anh
lại thông qua các Đạo luật Townshend
(Townshend Acts) - một chuỗi các sắc
thuế mới đánh thẳng vào các mặt hàng nhập khẩu thiết yếu như thủy tinh, chì,
sơn, giấy và trà. Đạo luật này ngay lập tức vấp phải làn sóng phản đối gay gắt
từ phía thuộc địa. Thực tế, gánh nặng tài chính từ việc đánh thuế không phải là
lý do chính khiến người dân thuộc địa phẫn nộ; điều họ kiên quyết bác bỏ chính
là việc nguồn doanh thu này lại được gửi về Anh, nơi một Nghị viện không có tiếng
nói đại diện của thuộc địa lại tự cho mình đặc quyền định đoạt và quản lý tài
chính theo ý muốn riêng.
Những
tiếng nói phản đối các Đạo luật Townshend cất lên đầu tiên ở hai thuộc địa
Massachusetts và Virginia. Tại Virginia, Viện Dân biểu đã đấu tranh khẳng định
quyền của mình đối với việc bổ nhiệm tư pháp và đánh thuế nội bộ. Bản ghị quyết
đanh thép này được thông qua chỉ 9 ngày sau khi Jefferson nhận ghế tại Viện Dân
biểu. Do đó, vừa mới nhậm chức chẳng bao lâu, ông đã buộc phải rời bỏ chức vụ của
mình. Lo ngại trước tinh thần sục sôi của các hoạt động chống Anh này, Thống đốc
hoàng gia đương nhiệm - Nam tước de Botetourt - đã lập tức giải tán Viện Dân biểu,
khiến các nghị sĩ và người dân thuộc địa chìm trong sự phẫn nộ.
Chối
bỏ lệnh giải tán của Thống đốc, Jefferson cùng các đại biểu vừa bị bãi nhiệm
như Washington, Patrick Henry… đã lập tức họp kín tại quán rượu Raleigh Tavern
gần đó. Qua cuộc họp này, họ đã ký thỏa thuận chung thành lập một hiệp hội tẩy
chay hàng nhập khẩu từ Anh. Bằng cách đó, họ kêu gọi mọi người không tiêu thụ
các sản phẩm từ chính quốc nhằm gây áp lực kinh tế lên London và khẳng định
tình đoàn kết giữa các thuộc địa. Những tháng tiếp theo dần chứng kiến sự chuyển
biến mạnh mẽ trong nhận thức của người dân, khi họ bắt đầu chủ động sử dụng các
hàng hóa nội địa thay thế cho những sản phẩm được nhập khẩu từ Anh.
Trong
thời gian Viện Dân biểu bị giải tán, Jefferson đã dành trọn một mùa hè để tập
trung đọc sách và nghiên cứu chuyên sâu về lý thuyết chính trị. Đến mùa thu năm
1769, khi cơ quan lập pháp này được lệnh hoạt động trở lại, ông tiếp tục tái đắc
cử và một lần nữa được giao trọng trách soạn thảo các văn kiện phản kháng đầy
nhạy cảm gửi tới chính quốc. Do gánh vác khối lượng công việc nghị trường ngày
một lớn, ông chỉ có thể dành khoảng thời gian ít ỏi cho hoạt động tranh tụng và
hành nghề luật sư.
Tính
nhạy cảm và phức tạp trong công việc của Jefferson không chỉ dừng lại ở các văn
kiện phản kháng thuế khóa, mà còn bộc lộ qua những tư tưởng cải cách xã hội vô
cùng táo bạo. Một minh chứng điển hình vào năm 1769 là nỗ lực nhằm nới lỏng luật
nô lệ hà khắc tại Virginia, bằng cách cho phép các chủ nô được toàn quyền tự
nguyện giải phóng nô lệ (manumission) mà không cần phải xin sự phê duyệt phức tạp
từ Thống đốc và Hội đồng Hoàng gia như trước. Hiểu rõ vị thế non trẻ của mình,
Jefferson đã khéo léo thuyết phục một nghị sĩ lão thành đầy uy tín là Đại ta
Richard Bland đứng ra đề xuất dự luật. Tuy nhiên, nỗi lực tiên phong này đã vấp
phải sự phẫn nộ và phản kháng kịch liệt từ đại đa số các nghĩ sĩ điền chủ tại
Viện Dân biểu, khiến dự luật bị bóp nghẹt ngay từ lúc đưa ra và đẩy ông Bland
vào làn sóng chỉ trích nặng nề từ dư luận.
Về
cơ bản, những năm đầu của Jefferson tại Viện Dân biểu đã diễn ra một cách tương
đối tốt đẹp, hiệp hội tẩy chay hàng nhập khẩu đã gửi một thông điệp rõ ràng tới
Quốc hội, và kết quả là các đạo luật Townshend đều bị bãi bỏ ngoại trừ thuế đối
với trà. Khi các lợi ích giữa chính quốc và thuộc địa không còn xung đột gay gắt,
tình hình tài chính của cả hai bên bắt đầu khởi sắc, mở ra một giai đoạn ổn định
ngắn đầy triển vọng, trước khi những giông bão cách mạng ập đến.
Giữa
lúc sự nghiệp chính trị đang mỉm cười, một bi kịch cá nhân nặng nề đã đột ngột ập
đến với Jefferson. Vào ngày 1 tháng 1 năm 1770, ngôi nhà ở điền trang Shadwell
bị thiêu rụi hoàn toàn trong lúc ông đi vắng. Vụ hỏa hoạn đã gây ra một tổn thất
khôn lường, cướp đi phần lớn thư viện sách quý giá cùng vô số ghi chú pháp lý
và hồ sơ tài sản mà ông đã dày công tích lũy. Đối với một học giả tri thức, sự
mất mát này là một tổn thất vô cùng to lớn.
Sau
một thời gian suy sụp trước mất mát, Jefferson đã nỗ lực hết sức để khôi phục lại
cuộc sống và sản nghiệp của mình. Trong niềm hăng hái đó, ông đã đặt mua một
cây đàn fortepiano hiện đại từ London để dành tặng và gây ấn tượng với vị hôn
thê của mình. Hơn nữa, chỉ trong vòng 3 năm sau biến cố, ông đã gây dựng lại
thư viện cá nhân của mình với 1.250 cuốn sách. Đây là một con số khổng lồ, minh
chứng cho ý chí phục hưng tri thức của vị luật sư trẻ tuổi trước khi ông bước
vào những giai đoạn giông bão tiếp theo của lịch sử thuộc địa.
Quá
trình xây dựng Monticello diễn ra một cách ráo riết sau khi Shadwell bị thiêu rụi.
Trong suốt những tháng mùa xuân và mùa hè năm 1770, bà Jane Randolph Jefferson
cùng các chị em gái của Jefferson phải ở tạm trong các ngôi nhà nông trại lân cận,
trong khi bản thân ông thuê một phòng trọ tại Charlottesville để tiện làm việc.
Đến tháng 10 cùng năm, chỉ vỏn vẹn 8 tháng sau khi Shadwell bị phá hủy,
Jefferson đã có thể bắt đầu cuộc sống mới khi chuyển đến sống tại South
Pavilion (Gian nhà phía Nam) - căn nhà
nhỏ bằng gạch đầu tiên được hoàn thành trên đỉnh núi Monticello. Khi nơi an cư
và sự nghiệp lập pháp đã dần đi vào ổn định, ông bắt đầu hướng trọn vẹn sự quan
tâm của mình vào vấn đề hôn nhân.
Đời sống hôn nhân của Jefferson (1770 - 1782)
Vì
là một thanh niên có nhiều hoài bão và đời sống tinh thần hướng tới cái đẹp, chẳng
có gì ngạc nhiên khi Jefferson lại đem lòng yêu một người phụ nữ đẹp và tài
năng tương xứng với vị thế của ông. Martha Wayles Skelton, 23 tuổi, là con gái
của John Wayles - một luật sư kiêm nhà đầu tư đất đai có thế lực ở Virginia - đồng
thời là góa phụ của Bathurst Skelton, người bạn học cũ của Jefferson tại trường
Đại học William & Mary. Jefferson thấy Martha đặc biệt cuốn hút nhờ nền tảng
học vấn uyên bác và niềm say mê âm nhạc. Trong suốt thời gian tìm hiểu vào các
năm 1770 và 1771, cặp đôi trẻ thường xuyên hòa giọng cùng nhau tại điền trang
The Forest, nơi bà cất tiếng hát trong khi ông đệm đàn vĩ cầm hoặc cùng bà chia
sẻ những giai điệu trên phím đàn cổ.
Nhờ
sự đồng điệu sâu sắc và sự đồng ý hoàn toàn của ông John Wayles, tình yêu của
hai người nhanh chóng trở nên gắn bó. Sau một khoảng thời gian chuẩn bị,
Jefferson đã chính thức kết hôn với Martha vào ngày đầu năm mới năm 1772. Đám
cưới được tổ chức trang trọng tại điền trang The Forest của gia đình Wayles
theo nghi thức Anh giáo. Sau hơn hai tuần lưu lại nhà ngoại, cặp đôi mới trở về
Monticello. Đáng nhớ nhất, khi gần về đến nhà thì một trận bão tuyết dữ dội bất
ngờ ập xuống, buộc đôi tân hôn phải chật vật cưỡi ngựa băng qua những lối đi ngập
tuyết trong đêm lạnh để bước chân vào mái nhà South Pavilion.
Không
chỉ có được một người bạn đời tri kỷ, qua cuộc hôn nhân với Martha Wayles
Skelton, Jefferson còn tiếp cận được một khối tài sản thừa kế khổng lồ trong
tương lai. Tuy nhiên, trong suốt 18 tháng kể từ ngày cưới cho đến tháng 5 năm
1773 khi cha vợ qua đời, Jefferson đã phải chứng kiến gia sản nhà Wayles dần tuột
dốc do hàng loạt thương vụ làm ăn thua lỗ, thậm chí trong đó có những thương vụ
mờ ám thiếu minh bạch. Cuối cùng, dù Jefferson được thừa kế phần lớn tài sản và
đất đai của nhà Wayles, ông cũng phải gánh chịu một khoản nợ khổng lồ kèm theo.
Khoản nợ này là một cái bẫy nợ nần từ các thương nhân Anh và nó đã khiến
Jefferson điêu đứng suốt đời. Điều này cũng giải thích lý do vì sao sau này
Jefferson lại có thái độ thù địch và quyết liệt chống lại hệ thống tài chính,
ngân hàng kiểu Anh.
Khi
mọi chuyện dần an bài, Jefferson thấy mình đứng ra quản lý khối tài sản được thừa
kế từ người cha vợ gồm hơn 10.000 mẫu Anh đất đai cùng 135 nô lệ. Trong số 135
nô lệ này, có một gia đình nô lệ da màu đặc biệt mang họ Hemings, đó là
Elizabeth Hemings và các con của bà. Nhiều tài liệu nghiên cứu lịch sử chính thống
đã chỉ ra rằng, các con của Elizabeth Hemings thực chất là những người cùng cha
khác mẹ với chính người vợ Martha của Jefferson, họ là những đứa con ngoài giá
thú giữa John Wayles với Elizabeth. Về sau, một trong số những người con này tên
là Sally Hemings, sẽ trở thành nhân
vật trung tâm của một trong những câu
chuyện tình gây tranh cãi nhất lịch sử nước Mỹ, đó là cuộc tình với Thomas Jefferson sau khi vợ ông qua đời.
Những
tài sản thừa kế từ nhà vợ, cộng với cơ nghiệp sẵn có từ trước, đã đưa Jefferson
vào hàng ngũ những địa chủ và chủ nô lớn
nhất ở Virginia. Điều này thật trớ trêu đối với Jefferson, ông là người từng
công khai phản đối chế độ nô lệ và tiếp tục kiên định lập trường đó trong suốt
cuộc đời mình, nhưng đồng thời, vẫn phụ thuộc và duy trì vai trò là một người sở
hữu nô lệ ở quy mô lớn. Đây là một trong
những mâu thuẫn cốt lõi và sâu sắc nhất trong cuộc đời và tư tưởng của Thomas
Jefferson. Nó cũng lột tả một cách chân thật nhất “vết rạn nứt” trong đạo đức
của các nhà lập quốc Mỹ thời bấy giờ. Jefferson viết “mọi người sinh ra đều có quyền
bình đẳng” trong bản Tuyên ngôn Độc lập, nhưng đồn điền Monticello của
ông lại được vận hành bằng mồ hôi của hàng trăm nô lệ.
Trước
mắt, để trang trải các khoản nợ của nhà Wayles, Jefferson đã bán bớt một phần đất
đai cùng nô lệ thừa kế, đồng thời tập trung nguồn lực ít ỏi thu gom được vào việc
nâng cấp điền trang Monticello. Trong suốt phần đời còn lại, Jefferson luôn coi
trọng việc cải tạo đất đai và sở hữu nô lệ hơn là tích trữ nguồn vốn. Dù quỹ đất
và số lượng nô lệ có giảm đi, ông vẫn liên tục bị các chủ nợ bủa vây đòi tiền.
Những đợt xây thêm và cải tạo kéo dài tại Monticello, cộng với lối sống xa hoa
cùng thói quen tiếp khách, đã cuốn Jefferson vào vòng xoáy nợ nần chồng chất
không thể cứu vãn, và cho đến cuối đời, dường như ông cũng không hề quan tâm đến
điều đó.
Nhưng
giờ đây, là một người mới lập gia đình, Jefferson lần đầu đắm mình trọn vẹn vào
cuộc sống của một điền chủ nông thôn. Ông dành sự chú ý đặc biệt cho việc làm
vườn và những lai tạo cây trồng của mình. Sau khi kết hôn, tính cách của ông dường
như mới trở nên rõ nét hơn, và ngay cả chữ viết của ông cũng ổn định hơn và
không thất thường như trước nữa.
Trong
vai trò một người chồng, Jefferson vô cùng yêu thương Martha, đôi khi ông đã bỏ
bê cả công việc để dành thời gian bên bà. Chính sự nồng ấm này có thể đã khiến
sức khỏe của bà ngày một xấu đi vì trải qua nhiều lần mang thai và sinh nở liên
tiếp. Dẫu vậy, bất chấp việc sức khỏe ngày càng sa sút, Martha vẫn hết lòng yêu
thương Jefferson. Có thể nói, đó là một cuộc hôn nhân êm ấm, hạnh phúc và viên
mãn của cả hai người.
Do
thể trạng yếu ớt của bà, trong số sáu người con được chào đời trong khoảng thời
gian chưa đầy 10 năm, có tới bốn người đã không may qua đời từ thuở lọt lòng và
chỉ hai người con gái sống sót đến tuổi trưởng thành. Người con đầu lòng là
Martha (thường được gọi là Patsy), chào đời năm 1772, chỉ hơn 9 tháng sau ngày
cưới. Bà là người sống lâu nhất trong số các anh chị em và gắn bó sâu sắc nhất
với cuộc đời của cha. Bà qua đời năm 1836 ở tuổi 64, sinh được 11 con và là người
quản lý trực tiếp điền trang Monticello cũng như túc trực chăm sóc Jefferson
cho đến tận những giây phút cuối đời. Người con thứ tư là Maria (thường gọi là
Polly) sinh năm 1778, do có thể trạng yếu ớt di truyền từ mẹ, bà qua đời năm
1804 sau biến chứng từ một ca sinh nở khi mới 25 tuổi. Sau mỗi lần sinh nở, sức
khỏe của Martha lại ngày một suy kiệt. Thế nhưng, ngay cả khi niềm hạnh phúc
làm mẹ liên tiếp biến thành nỗi đau mất con, Jefferson vẫn luôn túc trực bên cạnh
vợ. Ông thậm chí đã dứt khoát từ chối nhiều vị trí bổ nhiệm quan trọng ở cả cấp
bang lẫn liên bang để dành trọn thời gian chăm sóc người bạn đời đau ốm của
mình.
Năm
1776, Viện Dân biểu đổi tên thành Viện Đại
biểu Virginia (Virginia House of Delegates). Trong những năm đầu của cuộc
Chiến tranh giành độc lập, khi đang phục vụ tại Viện Đại biểu Virginia,
Jefferson thường xuyên không đến nhiệm sở mà thích ở nhà hơn để soạn thảo các
tóm tắt pháp lý và đề xuất chính sách. Ông đã bỏ nhiều cuộc họp lập pháp để ở
bên cạnh Martha. Việc này trở nên khó khăn hơn khi ông đảm nhận chức vụ Thống đốc
bang Virginia, trước gánh nặng từ công việc và người vợ đau ốm. Jefferson đã
quyết định không tái ứng cử sau khi hoàn thành hai nhiệm kỳ (từ 1779 đến 1781)
của mình để trở về Monticello.
Đúng
lúc ông bắt đầu ổn định cuộc sống thì bệnh tình của Martha trở nên nặng hơn. Bà
đã chống chọi với cơn đau trong suốt nhiều tuần, nhưng rốt cuộc đã trút hơi thở
cuối cùng vào ngày 6 tháng 9 năm 1782. Trên giường bệnh, bà đã buộc Jefferson
phải hứa sẽ không bao giờ tái hôn. Mong muốn này xuất phát từ lo lắng các con sẽ
gặp phải người mẹ kế thiếu tình thương - giống như hai người mẹ kế mà chính bà
từng phải chịu đựng thời thơ ấu. Trong sự đau xót và tràn đầy thương yêu,
Jefferson đã chân thành đồng ý với ước nguyện của người hấp hối, hầu như không
nhận thức được những hệ lụy mà nó sẽ mang lại cho cuộc đời sau này của ông.
Jefferson
đã suy sụp hoàn toàn kể từ lần cuối Martha chìm vào hôn mê, ông đã ngất đi và
phải được khiêng ra khỏi phòng. Ông dành 3 tuần để tang trong thư viện của
mình, tiếp nối bằng một thời gian sống khép kín ẩn mình, hoạt động duy nhất của
ông là những chuyến cưỡi ngựa dài cùng con gái Patsy. Trong suốt nhiều tháng,
Jefferson vật lộn tìm lại cảm giác bình thường trong cuộc sống, và có thể nói rằng,
cùng với sự ra đi của Martha, một phần trong con người Jefferson đã chết theo
bà. Sống lâu hơn vợ 44 năm, Jefferson chỉ còn lại những mảnh vụn của một cuộc
tình đã mất, và những chông gai trong đời sống tình cảm sau này vẫn đang còn ở
phía trước.
Tiếp
theo: Cuộc đời Thomas Jefferson: Tuyên ngôn Độc lập và những mặt đối lập (Phần 2)

0 comments:
Post a Comment