Phật
giáo như ánh sáng mặt trời mà nhìn ánh sáng ấy, chúng ta chỉ có cặp mắt nhỏ hẹp.
Tuy nhiên một là tất cả, chúng ta có thể căn cứ một vài điều sau đây mà biết tất
cả đặc điểm của Phật giáo.
Thứ nhất, đặc điểm của Phật giáo là “In như sự thật”:
Lý thuyết, phương pháp cùng kết quả đều hợp lý, đều như thật. Phật giáo không
chen chủ quan của mình vào trước hay trong khi suy nghiệm sự thật, và chân lý của
đạo Phật là lời kết luận sau sự suy nghiệm trung thực ấy. Đạo Phật chỉ thấy và
chỉ nói những sự thật mà sự vật có, không thêm không bớt. Đạo Phật, nhân đó, cấm
đoán những tín ngưỡng và những hành động không phát sinh từ sự hiểu biết như thật,
luôn theo, đạo Phật không công nhận những kết quả của tín ngưỡng mê mờ, hành động
manh động là hợp lý. Cho nên đạo Phật cũng gọi là đạo Như Thật.
Đặc điểm thứ hai là “tôn trọng sự sống”.
Không sát sinh, ăn chay, là những điều tượng trưng cụ thể cho đặc điểm ấy. Đạo
Phật xem sự sống trên tất cả. Hết thảy cái gì gọi là có giá trị là phải bảo vệ
sự sống ấy. Giết sự sống để nuôi sự sống là mê muội và vì tham sống nên hại sự
sống cũng là vô minh. Cho nên tôn trọng sự sống không những bằng cách giúp nhau
để sống còn, mà còn có khi phải hy sinh sự sống để bảo vệ sự sống, nghĩa là có
khi tiêu cực như ăn chay để cứu muôn loài, có khi tích cực như “thay khổ cho
chúng sanh” để cứu vạn loài. Đạo Phật đặc biệt chú trọng và nêu cao chủ nghĩa lợi
tha, nhưng chữ lợi ấy là phải hướng về mục đích tôn trọng sự sống.
Đặc điểm thứ ba của đạo Phật là chỉ
thừa nhận sự “tương quan sinh tồn”.
Đạo Phật dạy cho người ta thấy ở đời phải tự lập chứ không thể biệt lập. Vũ trụ
là một sự tương quan; không có gì là trung tâm, không có gì là phụ thuộc. Bởi
thế cho nên phân ly là tự tạo một ung nhọt, mà chiến đấu (theo nghĩa hẹp) chỉ
là tương đối. Chiến đấu phải là một hành động vì bảo vệ sự sinh tồn mà bất đắc
dĩ phải áp dụng trong trường hợp bất đắc dĩ. Nếu biến sự bất đắc dĩ ấy thành sự
tuyệt đối cần thiết trong mọi trường hợp, thì chiến đấu sẽ trở thành chiến
tranh.
Đặc điểm thứ tư của đạo Phật là xác
nhận “người là trung tâm điểm của xã hội
loài người”. Đạo Phật không nói duy tâm, không nói
duy vật, tất cả đều do con người phát sinh và đều phát sinh vì con người. Kết
luận này thực tế ở đâu cũng rõ rệt cả. Trên thế giới loài người này không có gì
tự nhiên sinh ra hay từ hư không rơi xuống, mà đều do năng lực hoạt động của
con người tạo thành. Năng lực hoạt động của con người tạo tác chi phối tất cả.
Tất cả khổ đau hay vui sướng, tiến hóa hay thái hóa, đều là do con người dã man
hay văn minh. Người là chúa tể của xã hội loài người, xã hội loài người không
thể có chúa trời thứ hai.
Đặc điểm thứ năm là đạo Phật chú trọng
“đối trị tâm bịnh con người trước hết”.
Lý do rất rễ hiểu. Con người là trung tâm điểm của xã hội loài người, xã hội ấy
tiến hóa hay thoái hóa là hoàn toàn do hoạt động con người chi phối; mà hoạt động
con người lại do tâm trí con người chủ đạo, vậy xã hội là phản ánh trung thành
của tâm trí con người. Cho nên muốn cải tạo xã hội, căn bản là phải cải tạo con
người, cải tạo tâm bịnh con người. Tâm bịnh con người nếu còn độc tài, tham
lam, thì xã hội loài người là địa ngục; tâm bịnh con người được đối trị rồi thì
hoạt động con người rất sáng suốt mà xã hội con người, kết quả của hoạt động ấy,
cũng rất cực lạc.
Đặc điểm thứ sáu, mục đích đạo Phật
là “đào luyện con người thành bi, trí,
dũng”. Bi là tôn trọng quyền sống của người khác. Trí là
hành động sáng suốt lợi lạc. Dũng là quyết tâm quả cảm hành động. Dũng không có
bi và trí thì sẽ thành tàn ác và manh động. Trí không có bi và dũng thì sẽ
thành gian xảo và mộng tưởng. Bi không có trí và dũng thì sẽ thành tình cảm và
nhút nhát. Bi là tư cách tiến hóa, trí là trí thức tiến hóa, dũng là năng lực
tiến hóa. Con người như thế là con người mới, căn bản của xã hội mới.
Đặc điểm thứ bảy của đạo Phật là “kiến thiết một xã hội mới” mà căn bản
là con người mới. Cho nên tranh đấu cho xã hội mới ấy, trở
lại vấn đề, phải là chiến thắng chính mình trước hết. Con người tự chiến thắng
con người, nghĩa là cái “nhân cũ” (bóc lột, đàn áp, độc tài, xâm lược) không
còn nữa, thì kết quả được cái “quả mới” là một xã hội mới. Trong xã hội ấy, quyền
sống tuyệt đối bình đẳng như sự sống: bình đẳng trong nhiệm vụ, bình đẳng trong
hưởng thụ.
Đặc điểm thứ tám của đạo Phật là “tiến lên vô thượng giác”.
Đào luyện một con người mới, kiến thiết một xã hội mới rồi, không phải mục đích
của đạo Phật cứu cánh ở đó. Cao xa, đạo Phật còn hướng dẫn con người tiến dần
lên chóp đỉnh của sự tiến hóa là địa vị vô thượng giác, địa vị vô minh toàn diệt,
trí tuệ toàn giác, địa vị Phật Đà.
Đặc điểm thứ chín là đạo Phật dạy phải
“tự lực giải thoát”.
Đây là một tinh thần tuyệt đối cần thiết. Đức Phật chỉ là một đạo sư dẫn đạo
con đường sáng cho chúng ta. Còn chúng ta phải tự thắp đuốc trí tuệ của mình mà
soi đường, phải tự động cặp chân năng lực của mình mà đi. Con người mới phải là
tự rèn luyện; xã hội mới là phải tự kiến thiết; vô thượng giác là phải tự tu, tự
chứng. Tự lực giải thoát là con đường duy nhất của mười phương các Đức Phật, Bồ
tát. An lạc không phải cầu xin, trí giác không do cầu hồ. Một điều nữa, nước
trong bản chất là nước đục, hoa sen không mọc trên cát vàng, cho nên người đạo
Phật phải tự lực giải thoát ngay trong cảnh giới đau khổ mê muội. Lánh ngoài thế
gian đau khổ để tìm giác ngộ, thì kinh dạy, đó là đi tìm sừng con thỏ. Phật tử
không nên đứng vào hàng ngũ thông minh mà phải hướng về lớp người ngu dốt dìu dắt
họ. Hoa Đàm muôn thuở người ta chỉ tìm thấy trong ao bùn, tuệ giác vô thượng chỉ
có bởi chúng sanh.
Đặc điểm thứ mười của đạo Phật là “hiện chứng thể nghiệm”.
Đức Phật chỉ hướng dẫn chúng ta, chứ chân lý không phải là thứ đem quay phim
cho người thấy được. Đức Phật là đạo sư, nhưng trí giác không phải là thứ ai dạy
khôn cho ai. Cho nên đối với chân lý tối cao, ta phải tự lực thể nghiệm. Sự tự
lực thể nghiệm ấy, không những áp dụng với tinh thần tự lực giải thoát mà thôi,
mà còn đặc biệt chú ý đến sự hiện chứng. Thế nào gọi là sự hiện chứng? Ví dụ
con đường đi đến Mai thôn có mười đoạn. Người đi không ham, không thể ham nhảy
vọt đến Mai thôn mà không qua mười đoạn đường, mà phải đi từng bước, bước từng
đoạn, được một đoạn là đến Mai thôn một đoạn. Con đường vô thượng giác cũng vậy,
nương theo lời Phật chỉ dẫn, ta phải bước từng bước, hiện chứng đến đâu thể
nghiệm chân lý đến đó, cho đến khi toàn giác. Đức Phật tạo cho ta cái thang,
nhưng không kéo giàn hoa xuống hay đẩy thẳng ta lên được. Ta phải tự lực mà
trèo từng nấc thang lên giàn hoa chân lý. Trèo được nấc nào là tự thể nghiệm
chân lý nấc ấy. Đối với chân lý chưa hiện chứng, chúng ta chỉ nói học, không
nói biết. Tinh thần tu chứng đạo Phật là thế.
Do
tất cả đặc điểm trên đây, chúng ta thấy đạo Phật không phải chỉ là một tôn
giáo. “Đạo Phật là tất cả”, đó là một đặc điểm vừa cuối cùng vừa trước
hết của đạo Phật. Cho nên Phật tử không thực hành đạo Phật bằng cách để hoạt động
của mình một phần chính vào sự lễ bái, cầu nguyện. Phật tử thực hành đạo Phật
là áp dụng vào đời sống, áp dụng vào tất cả mọi hoạt động. Căn bản của đạo Phật
là như thật, tinh thần đạo ấy là bi, trí, dũng. Sống trong căn bản và tinh thần
ấy, Phật tử tự nhiên không thể không phủ nhận sự tàn sát, sự manh động và sự nô
lệ. Cho nên họ phải tự lực hành động để thượng thượng thăng tiến. Và hành động ấy
không có lãnh vực trong không gian, không có giới hạn trên thời gian, không có
phạm vi trong tổ chức, không có khu phân trong trường hợp. Ở đâu và lúc nào, với
ai và cảnh nào, Phật tử cũng áp dụng căn bản và tinh thần bi, trí, dũng của đạo
Phật vào để tác động và chi phối, hầu tạo thành một thế giới tịnh độ. Cho nên đạo
Phật bao trùm tất cả. Nói ngược lại, tất cả có tinh thần đạo Phật mới tốt đẹp.
Tỳ kheo Trí Quang

0 comments:
Post a Comment