Chùm
nho thịnh nộ là tác phẩm nổi tiếng và có sức ảnh hưởng
nhất của John Steinbeck, cuốn tiểu thuyết kinh điển này là một biên niên sử phản
ánh thực trạng xã hội trong một thời kỳ đen tối của lịch sử nước Mỹ.
Qua thời gian, giống như những tác phẩm
kinh điển khác, những tầng nghĩa dưới lớp ngôn từ của tác phẩm, giống như trầm
tích, tiếp tục khiến độc giả và giới nghiên cứu tìm tòi, khám phá. Khi tác phẩm
tách biệt khỏi những hoàn cảnh xã hội và lịch sử đầy biến động của bối cảnh mà
nó lấy làm nền tảng, người đọc và giới phê bình có cái nhìn sâu sắc hơn về cuốn
tiểu thuyết này. Chùm nho thịnh nộ khẳng định là một trong những tác phẩm quan
trọng nhất của nền văn học Mỹ, Steinbeck đã đề cập đến những vấn đề của nhân loại
mà hôm nay chúng ta vẫn đang đối mặt. Cuốn sách không chỉ được nghiên cứu về mặt
bối cảnh, triết lý xã hội mà còn cả giá trị nghệ thuật. Cho đến tận ngày nay,
thế giới vẫn đi sâu tìm hiểu các đặc điểm nghệ thuật, các yếu tố văn học và những
khái niệm mà cuốn tiểu thuyết truyền tải, xem xét kỹ lưỡng các biểu tượng Kinh
thánh, hiệu quả của cấu trúc tự sự phi truyền thống và cái kết của tác phẩm
này.
Bối cảnh tác phẩm
John Steinbeck sinh ngày 27/02/1902 tại
Salinas, California. Mặc dù có một thời gian ngắn sống ở New York, cuộc đời ông
chủ yếu gắn liền với California. John Steinbeck từng học đại học Stanford nhưng
chưa bao giờ tốt nghiệp. Sự nghiệp viết lách của ông bắt đầu từ năm 1929 nhưng
đến tận năm 1935, sau khi xuất bản cuốn “Tortilla
Flat (Thị trấn Tortilla Flat)” ông mới gặt hái những thành công đầu tiên.
Steinbeck thường dùng các tác phẩm của mình để phản ánh đời sống của những con
người bị áp bức trong xã hội. Ba cuốn tiểu thuyết cuối những năm 1930 đi sâu
vào cuộc sống của những người lao động di cư ở California: In Dubious Battle (Trong trận chiến giằng co) xuất bản năm 1936, Of Mice and Men (Của chuột và của người)
xuất bản năm 1937, và kiệt tác The Grapes
of Wrath (Chùm nho thịnh nộ) xuất bản năm 1939.
Cốt truyện của Chùm nho thịnh nộ bắt
nguồn từ các sự kiện lịch sử và xã hội của nước Mỹ những năm 1930. Hạn hán là một
vấn đề nghiêm trọng xảy ra ở vùng Đại Bình nguyên của Mỹ, đặc biệt là miền tây
Oklahoma và vùng cán chảo Texas trong nhiều thập kỷ trước những năm 1930. Vào
cuối những năm 1880, vùng đất này bắt đầu được những người tá điền định cư khai
hoang nông nghiệp, nhưng những cơn hạn hán liên miên và đặc biệt nghiêm trọng
vào năm 1894 đã tàn phá mùa màng, phần lớn nông dân đã bỏ lại đất đai của mình.
Trong thời kỳ hạn hán này, đã có nhiều tài liệu viết về những đám mây bụi bao
phủ mặt đất, làm ngạt thở gia súc và che khuất tầm nhìn. Đây là một thảm họa
môi trường và khu vực bị ảnh hưởng sau này được một phóng viên Oklahoma đặt tên
là “Vùng
Bão Bụi - Dust Bowl”. Vào đầu những năm 1900, khi khu vực này có lượng
mưa nhiều hơn và cỏ được trồng trên những vùng đất trống, sản xuất nông nghiệp
dần khôi phục. Đến Thế chiến I, nông nghiệp quy mô lớn đã bắt đầu hình thành.
Tuy nhiên, ngay sau chiến tranh, hạn hán trở lại tàn phá mùa màng của những người
nông dân. Trong khi đó, kỹ thuật canh tác lạc hậu đã làm giảm năng suất và tàn
phá đất đai, việc trồng bông đòi hỏi nhiều sức lao động và làm cạn kiệt chất
dinh dưỡng trong đất.
Với việc thị trường chứng khoán sụp đổ
năm 1929 và suy thoái kinh tế sau đó. Cuộc Đại khủng hoảng đã khiến các ngân
hàng tuyệt vọng tìm cách bù đắp những khoản thua lỗ. Cho rằng việc sáp nhập những
trang trại nhỏ của tá điền thành một trang trại lớn để các tập đoàn canh tác sẽ
mang lại nhiều lợi nhuận hơn, các gia đình nông dân dần bị đuổi ra khỏi trang
trại của họ. Do mùa màng thất bát, họ không còn gì để sống, họ không thể trả gốc
và lãi cho ngân hàng. Thiếu học thức và kinh nghiệm trong các lĩnh vực phi nông
nghiệp, những người nông dân dần bị tước đoạt tài sản của mình.
Để mưu sinh, họ phải tìm hy vọng ở một
vùng đất mới. Còn non nớt và ở thế đường cùng, những người nông dân này bị các
chủ trang trại lớn lợi dụng bằng các thủ đoạn tuyên truyền. Hàng trăm nghìn tờ
rơi được rải khắp vùng Dust Bowl, hứa hẹn cơ hội việc làm ổn định với mức lương
tốt để đảm bảo cuộc sống, dụ dỗ họ di cư về phía Tây bằng viễn cảnh về một cuộc
sống tốt đẹp. Vì không còn lựa chọn nào khác, những người dân mất đất thu gom
tài sản nghèo nàn của mình và hướng về California trên những chiếc ô tô cũ nát.
Hơn 450.000 người ồ ạt di cư đã tạo ra một hiện tượng, họ sống cuộc sống du mục,
chỉ mong tìm được một nơi để làm việc và định cư. Họ khiến người dân bản địa
California sợ hãi, bị thù địch và kỳ thị, bị gọi là "Okie" - một
thuật ngữ miệt thị dùng để chỉ những người nông dân đến từ vùng Dust Bowl. Lượng
dân cư khổng lồ tăng lên nhanh chóng, việc làm và thực phẩm trở nên khan hiếm,
tiền công rẻ mạt. Họ phải sống trong những khu lán trại tạm bợ nghèo khổ được gọi
là "Hoovervilles"
- được đặt theo tên Tổng thống Hoover, người được cho là có những quyết định
sai lầm dẫn đến cuộc Đại suy thoái. Nhiều cư dân của những lán trại này đã chết
đói vì không tìm được việc làm.
Kiến thức nền tảng và cuộc sống thực
tiễn của bản thân đã giúp Steinbeck có đủ chất liệu để viết Chùm nho thịnh nộ.
Trong suốt thời trai trẻ, Steinbeck làm việc như một người chăn nuôi gia súc ở
nhiều trang trại thuộc thung lũng Salinas. Ông đã có cơ hội quan sát và chứng
kiến cuộc sống của những người nông dân, những lao động di cư làm việc trong
các trang trại. Từ đó, ông nhìn ra sự bất bình đẳng xã hội và thấy nó ảnh hưởng
đến đời sống của những người nông dân như thế nào. Sau khi xuất bản cuốn "In Dubious Battle (Trong trận chiến giằng
co)", Steinbeck được xem như một nhà phê bình xã hội và ông đứng về
phía những người lao động nghèo khổ. Tờ The San Francisco News đã đặt ông viết
loạt bài về cuộc sống trong các trang trại của người lao động di cư. Mặt khác,
ông cũng đã sống với một gia đình nông dân Oklahoma và cùng họ di dân đến
California. Hai việc này đã đem đến cho Steinbeck phần lớn tư liệu và kiến thức
cần thiết để viết nên cuốn Chùm nho thịnh nộ.
Khi Chùm nho thịnh nộ được xuất bản,
phần lớn độc giả và những nhà phê bình đánh giá cao cuốn tiểu thuyết, nó đã
nhanh chóng bán được nửa triệu bản và là cuốn sách bán chạy nhất trong các năm
1939, 1940. Câu chuyện về chuyến đi của gia đình Joad đã phản ánh sâu sắc một
thời điểm hỗn loạn trong lịch sử nước Mỹ, “đã đi vào cả ý thức và lương tâm của người
Mỹ (Robert DeMott)”. Năm 1940, cuốn tiểu thuyết đã được trao giải
Pulitzer. Mặc dù sự nghiệp viết văn của Steinbeck tiếp tục thành công và ông
giành giải Nobel Văn học năm 1962, nhưng không cuốn sách nào sau này của ông có
tầm ảnh hưởng như Chùm nho thịnh nộ. Ông mất năm 1968.
Mặt khác, Chùm nho thịnh nộ cũng khiến
một số nhà phê bình bối rối trước cấu trúc bất thường, những triết lý nhân sinh
và cố tình không đi sâu vào nội tâm các nhân vật. Đặc biệt, cuốn sách bị chỉ
trích gay gắt ở California và Oklahoma vì đã mô tả một cách trần trụi con người
và thực trạng ở nơi đây, một bài xã luận còn gọi nó là tuyên truyền cộng sản.
Cuốn sách bị cấm ở trường học và thư viện tại hạt Kern, California.
Tiêu đề Chùm nho thịnh nộ có ý nghĩa gì?
Như nhiều tác phẩm khác của
Steinbeck, Chùm nho thịnh nộ có mối liên kết với các văn bản khác xuất hiện trước
nó, thể hiện ở tiêu đề, đề từ, tình huống truyện. Nhà văn đã kết nối tác phẩm với
các văn bản khác như “Thánh chiến ca của nền cộng hòa (1861) -
The Battle Hymn of the Republic” của Julia Ward Howe và với Kinh
Thánh. Bằng cách kết nối này, ông đã tạo nên cuộc đối thoại tư tưởng
không hồi kết.
Tiêu đề Chùm nho thịnh nộ được Carol
- vợ của Steinbeck gợi ý, cái tên này được trích từ bài “Thánh chiến ca của nền cộng hòa” của Julia W Howe. Bài hát được
Julia W Howe viết năm 1861 nhằm khích lệ tinh thần chiến đấu của những người
lính Liên minh Miền bắc trong cuộc nội chiến Mỹ. Bài hát này đã trở thành một
phần quan trọng của văn hóa Mỹ. Nhan đề được trích dẫn từ đoạn hai: “Mắt tôi đã thấy vinh quang của sự hiện diện
của Chúa. Ngài sẽ chà đạp những vườn nho chứa những chùm nho thịnh nộ (the
grapes of wrath); Ngài tuốt gươm kinh hoàng lấp lánh ánh tang tóc, chân lý của
Ngài đang đến”.
Âm hưởng của bài ca Thánh chiến ca
này là sự phẫn nộ trước bất công và khao khát hành động vì dân chủ. Lời ca này
được Julia Ward Howe viết dựa trên phân đoạn sách Khải huyền 14-19-20 của Kinh
Thánh trình bày khải thị về sự xét đoán thiên thượng và giải cứu khỏi sự áp bức
trong ngày phán xét cuối cùng: “Thiên sử
quăng lưỡi liềm xuống đất, cắt vườn nho ở đất và ném nho vào thùng lớn thạnh nộ
của Đức Chúa Trời. Thùng ấy phải dày đạp tại ngoài thành, rồi có huyết ở thùng
chảy ra, huyết đó lên đến chỗ khớp ngựa, dài một quãng một ngàn sáu trăm dặm (Cựu
ước - Kinh Thánh)”.
Julia W. Howe đã tìm được mối liên hệ
gần gũi giữa cuộc chiến vì dân chủ, xóa bỏ chế độ nô lệ của những chiến binh Miền
bắc trong cuộc nội chiến Mỹ với công cuộc giải cứu con người khỏi sự áp bức
trong truyền thuyết ở Kinh Thánh. Đến lượt Steinbeck, ông một lần nữa liên kết
truyện kể của mình với các văn bản đó qua tiêu đề tác phẩm của mình. Hình ảnh gợi
lên từ tiêu đề Chùm nho phẫn nộ là một biểu tượng quan trọng trong việc phát
triển câu chuyện và thể hiện chủ đề của tác phẩm, đó là sự áp bức như những lò
ép rượu nho sẽ tạo nên sự phẫn nộ. Sự phẫn nộ, đến lượt nó lại giúp những con
người bị áp bức giữ được phẩm giá cao cả của mình, như những thứ thức uống ngon
lành có được từ lò ép nho. Nho trong hệ thống biểu tượng văn hóa thế giới thể
hiện cho sự sung túc. Trong tác phẩm của Steinbeck, nho cũng được sử dụng với ý
nghĩa tương tự. Khi gia đình Joad chuẩn bị cuộc di cư, nho được mọi người nhắc
đến như hình ảnh về sự sung túc. Ông nội Joad ba lần nhắc tới việc mình sẽ hái
và thưởng thức nho một cách đầy thỏa mãn. Ngoài nho, những loại hoa quả khác cũng
là hình tượng được Steinbeck dùng để ẩn dụ cho tính hai mặt giữa mong ước và thực
tế trong hành trình đi tìm miền đất hứa của họ. Hình ảnh nho, hoa quả và tâm trạng
phẫn nộ trong tác phẩm là động lực thôi thúc gia đình Joad và những người di cư
đoàn kết lại trong hành trình đầy khó khăn này.
Qua tiêu đề, Steinbeck đã kết nối tác
phẩm của mình với những vấn đề trong Thánh chiến ca của nền cộng hòa, sâu rộng
hơn nữa, đến những vấn đề trong Kinh thánh. Hy vọng về sự sung túc, khát vọng
dân chủ, sự bất công, thịnh nộ, đấu tranh, bi kịch của sự thất bại, nỗi đau
nhân sinh... Đó là những vấn đề muôn thuở của loài người mà tác giả Chùm nho phẫn
nộ muốn người đọc suy nghiệm.
Những ý nghĩa của tác phẩm Chùm nho thịnh nộ
Thực trạng xã hội, sự độc ác của con người và những vấn đề muôn thuở của nhân loại
Chùm nho thịnh nộ được coi là cuốn tiểu
thuyết hiện thực xuất sắc của văn chương hiện đại Mỹ. Nửa đầu thế kỷ XX là thời
kỳ hiện đại với nhiều biến động dữ dội đã ảnh hưởng nặng nề đến cuộc sống cũng
như tư tưởng của người Mỹ. Các nhà văn phản ứng với cuộc khủng hoảng nhận thức
và bản thể học trong cách con người ứng xử với nhau. Trong khi F.S.Fitzgerald
mô tả sự tàn lụi những giấc mơ hào nhoáng của tuổi trẻ. E.Hemingway diễn tả tâm
trạng mất mát, lạc lối sau chiến tranh thì Steinbeck quay về chủ đề xung đột xã
hội cùng các vấn đề của người lao động di cư. Ở ngưỡng tiếp nhận thông thường,
câu chuyện về cuộc sống của gia đình Joad trở thành hoàn cảnh điển hình của Mỹ
những năm sau khủng hoảng kinh tế. Phần bối cảnh tác phẩm đã trình bày ở trên
đem đến cho chúng ta một cái nhìn bao quát về thực trạng xã hội Mỹ giai đoạn
này.
Từ đó giúp độc giả hiểu được nguồn
cơn của cuộc sống khổ cực mà những nhân vật trong tác phẩm đại diện. Tuy nhiên,
nỗi thống khổ lớn nhất của họ không đến từ thực trạng xã hội mà đến từ sự độc
ác của chính con người. Hoàn cảnh lịch sử, xã hội và kinh tế chia rẽ con người
thành giàu và nghèo, chủ đất và tá điền... Ở đó, tầng lớp giàu có tìm mọi cách
để giữ vững vị trí thống trị của mình, với lòng tham vô độ, họ chà đạp lên nhu
cầu sinh tồn cơ bản của những người nông dân, tìm mọi cách để bần cùng hóa họ.
Qua hình mẫu gia đình Joad, Steinbeck
cũng gửi gắm vào tác phẩm của mình dấu hiệu của sự chuyển giao vị trí thống trị.
Ban đầu gia đình Joad dựa trên cấu trúc truyền thống, trong đó đàn ông là người
làm chủ gia đình và đưa ra những quyết định quan trọng, phụ nữ đảm nhận công việc
nội trợ và là người đứng sau. Vai trò này dần thay đổi theo tiến trình của cuốn
tiểu thuyết. Đến cuối tác phẩm, cấu trúc gia đình đã trải qua một cuộc cách mạng,
trong đó hình tượng người phụ nữ, vốn truyền thống không có quyền lực, đã nắm
quyền kiểm soát và đưa ra những quyết định quan trọng, trong khi hình tượng người
đàn ông, vốn truyền thống giữ vai trò lãnh đạo, đã rút lui. Cuộc cách mạng này
song hành với sự biến động tương tự trong các hệ thống phân cấp kinh tế lớn hơn
bên ngoài. Những người sống tại trại Weedpatch tự quản lý theo quy tắc riêng của
họ và phân chia công việc dựa trên sự công bằng và bình đẳng hơn là quyền lực
hay uy quyền; những con người bị áp bức bắt đầu có lý tưởng, đoàn kết lại và đấu
tranh.
Chùm nho thịnh nộ kể về thực trạng của
một thời nhưng nó không chỉ dừng lại ở đó, tác phẩm vẫn được người đọc ngày nay
tìm đến, vẫn được nghiên cứu và phân tích, vì những vấn đề mà nó nêu lên là những
câu hỏi nhân sinh của mọi thời mà con người luôn đau đáu đi tìm câu trả lời.
Sức mạnh cứu rỗi của gia đình, lý tưởng và sự đoàn kết
Euripides có một câu nói rất hay về
gia đình rằng: “Duy chỉ có gia đình, người
ta mới tìm được chốn nương thân để chống lại tai ương của số phận”. Trong
tác phẩm Chùm nho thịnh nộ, Steinbeck đã cho người đọc thấy được nguồn sức mạnh
cứu rỗi của gia đình. Gia đình là pháo đài tinh thần giúp con người tồn tại, vượt
qua những tai ương và giữ vững phẩm giá. Sức mạnh này của gia đình, trước hết
được thể hiện qua sự gắn bó và tình yêu thương mang tính huyết thống trong một
đơn vị xã hội mà gia đình Joad là đại diện. Ở đó, mẹ Tom - Ma Joad - đóng vai
trò là người trụ cột tinh thần; bà ôm ấp yêu thương mọi người; xoa dịu và thấu
hiểu những thiếu sót sai lầm của người khác; cố gắng giữ vững gia đình khỏi sự
ly tán khi đối mặt với sự ra đi, cái chết, sự đói khát và mất mát niềm tin. Sự
gắn bó và tình thương yêu, đến lượt nó lại tạo ra sức mạnh giúp gia đình đoàn kết
và thích nghi để vượt qua những nghịch cảnh. Trong hành trình đi tìm miền đất hứa,
bị tước đoạt tài sản, đối mặt với đói nghèo, sự ruồng bỏ, bóc lột và những mất
mát, sức mạnh cứu rỗi của gia đình đã giúp họ giữ vững ý chí sống sót và nương
tựa vào nhau.
Gia đình trong Chùm nho thịnh nộ
không chỉ bó buộc trong quan hệ huyết thống. Khái niệm gia đình mở rộng thành một
cộng đồng, được xác lập không phải bởi gen di truyền mà là sự gắn bó, tinh thần
trách nhiệm và phẩm giá giữa con người với con người. Hai gia đình Joad và
Wilson đã hòa nhập thành một, "hai
mươi gia đình trở thành một gia đình, những đứa trẻ là con của tất cả. Nỗi mất
nhà cửa trở thành một nỗi mất mát chung…". Trước nghịch cảnh, sự đoàn
kết trong tình thân chân thành của họ là sức mạnh cứu rỗi để vượt qua những khó
khăn.
Từ sự mở rộng khái niệm gia đình, những
phẩm giá cá nhân chuyển đổi sang một hình thức cao cả hơn, mang tính tập thể,
chúng ta có thể gọi nó là lý tưởng. Đó chính là những gì mà Casy đại diện và
hành trình biến đổi của Tom Joad. Lời khẳng định của Tom: “Ở đâu có bất công, ở đó con có mặt” thể hiện sự giác ngộ lý tưởng,
phẩm giá của con người không chỉ mang tính cá nhân mà phải hướng tới tập thể,
hy sinh cá nhân vì tập thể, đoàn kết mọi người lại, vì một mục tiêu chung.
Chúng ta sẽ hiểu rõ hơn về ý nghĩa vai trò của các cá nhân trong bài viết phân
tích các nhân vật trong Chùm nho thịnh nộ.
Sức mạnh cứu rỗi trong Chùm nho thịnh
nộ nằm ở khả năng vượt lên trên bi kịch. Steinbeck khẳng định rằng ngay cả khi
mọi vật chất bị tước đoạt, tình người và sự gắn kết luôn là điểm tựa để con người
giữ lại phẩm giá và tiếp tục hy vọng.
Phẩm giá của sự thịnh nộ
Steinbeck đã tái hiện nỗi khổ của những
người nông dân vùng Bão bụi với lòng cảm thông sâu sắc và miêu tả họ là những
con người có phẩm chất cao quý dù bị áp bức. Ở mỗi bước ngoặt, họ đều thể hiện
và nhấn mạnh tầm quan trọng của phẩm giá, danh dự, lòng tự trọng. Điều này được
thể hiện xuyên suốt cuốn tiểu thuyết, khi những người di cư đã đùm bọc, giúp đỡ,
đoàn kết với nhau bằng tình người chân chính. Trong đó, điều cao cả nhất được
Steinbeck miêu tả ở cuối tác phẩm. Gia đình Joad đã phải gánh chịu những mất
mát to lớn: Noah, Connie và Tom rời bỏ gia đình; Rose of Sharon sinh ra một đứa
con chết lưu; gia đình không còn thức ăn cũng như không có việc làm. Tuy nhiên,
chính vào thời khắc tột cùng của mất mát này, gia đình Joad đã có một hành động
tử tế và hào phóng vô song, họ cho đi thứ cuối cùng mình có để cứu sống người
đàn ông sắp chết vì đói.
Thai kỳ của Rose of Sharon là một biểu
tượng của Chùm nho thịnh nộ, mang ý nghĩa về mong ước một khởi đầu mới. Khi đứa
con cô sinh ra bị chết lưu, mong ước ấy dường như tan vỡ. Nhưng thay vì chìm
vào tuyệt vọng, gia đình vẫn mạnh mẽ tiến về phía trước, tình mẫu tử thiêng
liêng thay bằng sự hy sinh và khả năng tái sinh của tình người trong tận cùng
tăm tối. Gia đình Joad không đánh mất giá trị của cuộc sống con người. Tình
thân không chỉ cứu rỗi gia đình mà còn mang lại hy vọng cho những người khác.
Những phẩm giá cao cả đó được phôi
thai từ sự phẫn nộ. Chừng nào con người còn giữ được sự phẫn nộ, giữ được sự tức
giận đối với những kẻ tìm cách làm mất đi lòng tự trọng của họ, thì họ sẽ không
bao giờ đánh mất phẩm giá của mình. Gia đình là nơi nuôi dưỡng sự phẫn nộ này,
biến nó thành động lực đấu tranh thay vì chìm vào tuyệt vọng. Ở mức độ lớn hơn,
sự phẫn nộ được nuôi dưỡng trong gia đình trở thành nền tảng cho sự phẫn nộ
mang tính tập thể, từ đó phát triển thành những lý tưởng cao cả hơn, hình thành
sức mạnh của tập thể để đòi lại công lý. Ví dụ như qua tiêu đề của tác phẩm, và
trong hình ảnh những người phụ nữ nhìn chồng, anh em và con trai của mình, họ
biết rằng những người đàn ông này sẽ vẫn mạnh mẽ “chừng nào nỗi sợ hãi (có thể) biến thành sự phẫn nộ”.
Những nền tảng triết học ảnh hưởng đến lý thuyết xã hội của Steinbeck trong Chùm nho thịnh nộ
Trong bài luận “The Philosophical Joads”,
nhà nghiên cứu Frederick I. Carpenter đã cho rằng, lý thuyết xã hội của
Steinbeck trong Chùm nho thịnh nộ được hình thành bởi ba luồng tư tưởng riêng
biệt của triết học Mỹ thế kỷ XIX. Thứ nhất là chủ nghĩa Siêu việt của Ralph
Waldo Emerson, thứ hai là chủ nghĩa nhân văn được thể hiện qua tình yêu thương
mọi người và sự đón nhận nền dân chủ đại chúng được tìm thấy trong các tác phẩm
của Walt Whitman và Carl Sandburg, và thứ ba là chủ nghĩa thực dụng của William
James.
Chủ nghĩa Siêu việt được nhân vật Jim
Casy thể hiện bằng ngôn ngữ dân gian mộc mạc, với niềm tin rằng tất cả linh hồn
của các cá nhân không tồn tại độc lập mà là một phần của “Siêu linh” - một trí
tuệ chung, một tinh thần phổ quát thúc đẩy, kết nối, và là nguyên tắc thống nhất
tất cả mọi người và vạn vật. Casy đã nhiều lần đề cập đến linh hồn lớn này, kết
nối tất cả trong sự thiêng liêng, và chúng ăn khớp một cách hoàn hảo với ý tưởng
cơ bản về sức mạnh trong sự đoàn kết của tập thể. Mặt khác, chủ nghĩa Siêu việt
cũng thừa nhận chủ nghĩa cá nhân, đặt niềm tin vào những người dân bình thường
và sức mạnh tự thân của họ. Quan niệm về sự tồn tại và sức sống của con người
được tượng trưng bởi biểu tượng con Rùa đất trong chương 3 và câu nói của Ma
Joad: “Chúng ta là con người, chúng ta phải tiếp tục tồn tại”. Quá
trình biến đổi của nhân vật Tom đại diện cho sự hòa hợp của hai mặt đối lập; một
mặt là sự gai góc, mạnh mẽ của chủ nghĩa cá nhân; mặt còn lại là sự bao dung,
hy sinh mình để cống hiến cho tập thể - như một phần của cùng một đấng Siêu
linh.
Sự chuyển biến của những nhân vật
chính từ triết lý sống dựa trên tôn giáo sang triết lý sống dựa trên lòng nhân
văn đã nhấn mạnh chủ nghĩa nhân văn trong lý thuyết xã hội của Steinbeck. Điều
này phản ánh lý tưởng của Walt Whitman, người tin rằng nền dân chủ dựa trên sự
tồn tại của mối liên hệ tương hỗ giữa các cá nhân, một thực thể mà tập thể có
vai trò quan trọng ngang bằng với cá nhân. Chủ nghĩa nhân văn có thể được truy
nguyên từ sự đề cao những con người bình thường của Whitman và Carl Sandburg;
có thể được hiểu rõ nhất như là tình yêu thương tất cả mọi người. Đây chính là
tinh thần mà Jim Casy đã nói đến, và cũng được thể hiện bởi các nhân vật người
mẹ trong Chùm nho thịnh nộ như Ma Joad, Sairy Wilson và Rose of Sharon. Ngay từ
lần xuất hiện đầu tiên trong tác phẩm, Ma Joad đã là hiện thân của tình yêu
thương bao la. Bà là người đầu tiên dang tay giúp đỡ và chăm sóc người lạ. Sự sẵn
lòng giúp đỡ người khác được thể hiện qua việc bà chào đón Casy đến với gia
đình, cho những đứa trẻ đói khát trong trại Hooverville ăn. Bà thể hiện tấm
lòng vị tha và cố gắng dạy bảo Rose of Sharon điều tương tự. Sự giúp đỡ đầy
tình người của Sairy Wilson trong lúc ông nội qua đời bất kể bệnh tật của mình
là một ví dụ khác về tình yêu thương con người vượt ra ngoài phạm vi gia đình.
Rose of Sharon muộn hơn trong việc thể hiện lòng vị tha và thái độ sẵn sàng cho
đi, thay vào đó cô chỉ ích kỷ nghĩ đến lợi ích và hạnh phúc của bản thân mình.
Tuy nhiên, đến cuối tác phẩm cô cũng trở thành một phần của sự bao dung khi cho
đi điều cuối cùng mình có trong nỗi đau tột cùng để cứu sống người khác.
Ảnh hưởng triết học thứ ba là chủ
nghĩa thực dụng, điều mà chính Steinbeck gọi là tư duy “phi thần học” hay “hiện
thực”. Chủ nghĩa thực dụng cho rằng cuộc sống nên được nhìn nhận như nó vốn có,
chứ không phải như nó nên có. Theo đó, người ta cần sống trọn vẹn từng khoảnh
khắc, phản ứng với những gì đang xảy ra dựa trên kinh nghiệm sống và phán đoán
cá nhân, chứ không phải dựa trên giáo lý tôn giáo hay đạo đức. Phản ứng của Tom
đối với hầu hết các tình huống đều rất thực dụng, tập trung vào “hành động” hơn
là những nhìn nhận hay suy nghĩ mang tính khuôn mẫu. Ma Joad cũng là một người
thực dụng, trọng tâm của bà là giữ gìn gia đình, đón nhận mọi khó khăn và phản ứng
lại theo tình huống gặp phải. Khả năng linh hoạt này là một khía cạnh khác của
chủ nghĩa thực dụng mà Steinbeck cho là nền tảng cho sự sống còn của những người
lao động di cư. Chủ nghĩa thực dụng cũng bao gồm việc từ bỏ các tín ngưỡng tôn
giáo trừu tượng, thay bằng việc tập trung vào sự thiêng liêng trong mối quan hệ
với những người đang sống.
Sau này, nhà phê bình Chester E.
Eisinger công nhận chủ nghĩa nông nghiệp Jeffersonian là sợi dây thứ tư trong
triết lý xã hội của Steinbeck. Chủ nghĩa nông nghiệp là một lối sống gắn bó mật
thiết với tình yêu và sự tôn trọng đất đai. Thông qua sự kết nối với chu kỳ của
đất, loài người có được bản sắc của mình. Cách Steinbeck sử dụng biểu tượng cho
ý tưởng này được tìm thấy nhiều lần trong Chùm nho thịnh nộ. Nhà văn sử dụng sức
sống của con ngựa và sức mạnh cơ giới của máy kéo để ẩn dụ hóa sự tương phản giữa
năng suất đến từ tình yêu đất đai với sự chết chóc nảy sinh từ sự cô lập khỏi
nó. Con người trọn vẹn khi họ làm việc với đất đai, và ngược lại, họ kiệt quệ về
mặt cảm xúc và thể chất khi tách rời khỏi đất đai. Việc mất trang trại “đã lấy đi một phần nào đó của cha tôi”,
và một người tá điền bị đuổi đi đã nói rằng: “Tôi là đất, đất là tôi”. Khi mảnh đất đó bị lấy đi, những người
đàn ông mất đi một phần bản thân, phẩm giá và lòng tự trọng của họ. Sự đoàn kết
của gia đình cũng gắn bó mật thiết với đất đai. Khi rời xa đất đai, gia đình
cũng dần tan rã. Ma Joad đã diễn tả điều này một cách ngắn gọn khi nói rằng: “Ngày xưa chúng ta còn ở trên đất. Khi đó, đất
đai là ranh giới của chúng ta… Chúng ta là một gia đình - trọn vẹn và rõ ràng.
Còn bây giờ thì không còn rõ ràng nữa”.
Các tham chiếu Kinh Thánh và hình ảnh Kitô giáo
Trong công trình: “John
Steinbeck: Tự nhiên và huyền thoại (John Steinbeck: Nature & Myth, 1982)”,
nhà nghiên cứu Peter Lisca là người đầu tiên đã chỉ ra mối liên hệ giữa Chùm
nho thịnh nộ và Kinh thánh. Ông chỉ ra sự tương ứng giữa ba phần của Chùm nho
thịnh nộ với ba phần của truyền thuyết về hành trình của người Do Thái chạy trốn
khỏi Ai cập đến miền đất hứa Canaan trong Kinh Thánh. Ba phần của Chùm nho thịnh
nộ: Phần 1 (chương 1 - 11): thời gian gia đình Joad ở Oklahoma, Phần 2 (chương
12 - 18): hành trình di cư của gia đình Joad, phần 3 (chương 19-30): đến miền đất
hứa California. Ba phần của truyền thuyết trong Kinh Thánh: Thời gian người Do
Thái chịu sự áp bức của người Ai Cập, Tìm đường trốn chạy và lạc trong sa mạc bốn
mươi năm, Đến miền đất hứa Canaan.
Sự giống nhau ở đây không chỉ đơn giản
về mặt bố cục mà sâu hơn là mối liên kết tình huống truyện, nó thuộc về cấu
trúc bên trong. Steinbeck đã tìm thấy trong Kinh Thánh một tình huống có thể diễn
giải được những gì rộng lớn hơn những điều mà ông quan sát được ở cuộc di cư khổng
lồ của người Mỹ. Nhà văn rất chú trọng đến việc xây dựng tình huống kể chuyện,
ông từng nói: “Tôi thường có hứng thú mạnh
mẽ với việc tạo ngữ cảnh của câu chuyện hơn là nhân vật và chủ đề”. Tình huống
trong Kinh Thánh về cuộc trốn chạy của người Do Thái khỏi ách áp bức của người
Ai Cập tìm đến Miền đất hứa là hình ảnh thích hợp nhất để ông diễn đạt tư tưởng
của mình.
Xây dựng Chùm nho thịnh nộ trong sự
liên kết với tình huống đi tìm Miền đất hứa, Steinbeck không đi sâu vào nội tâm
nhân vật mà hướng đến xây dựng các nhân vật mang tính đại diện. Tom Joad, Jim
Casy, Ma Joad có thể là những nhân vật có tính cách và phẩm chất tiêu biểu cho
một kiểu người nhất định nào đó, nhưng ấn tượng mạnh mẽ của các nhân vật không
phải ở những tính cách, phẩm chất đó mà là ở không khí do tình huống truyện gợi
ra. Hành trình của những người di cư trong đó có gia đình Joad được miêu tả với
nhịp điệu vừa hối hả, thống thiết vừa nhọc nhằn, chậm rãi. Đó là sự kết hợp của
lòng mong mỏi khẩn thiết đến được miền đất hứa với nỗi sợ hãi cuộc sống ở miền
đất chết. Tình huống ấy gợi nên không khí u ám, tâm trạng nặng nề cho người đọc.
Gia đình Joad bền bỉ đấu tranh với hoàn cảnh để giữ cho gia đình của họ được tồn
tại nhưng các thành viên trong gia đình mai một dần. Ở miền đất hứa California,
cái họ nhận được là không nhà cửa, không việc làm, đói khát, bệnh tật và chết
mòn trên mảnh đất giàu có. Kết thúc tác phẩm, năm thành viên còn lại của gia
đình Joad và hàng trăm ngàn người khác vẫn tiếp tục cuộc hành trình trong vô vọng,
các cuộc đình công, đụng độ giữa những người di cư với giới chủ và cảnh sát đã
diễn ra. Điều đó đồng hành với một thực tế, khi những người dân đang đói khổ, bị
áp bức bất công, họ sẽ dành những gì họ cần bằng vũ lực. Tác phẩm đã gợi lại một
dư âm vang vọng khắp các chặng đường lịch sử của nhân loại rằng, đàn áp chỉ làm
tăng phẫn nộ dồn nén. Steinbeck đã thể hiện một vấn đề quan trọng của nhân sinh
trong cấu trúc sâu rộng của một cuốn tiểu thuyết.
Sử dụng tình huống của truyền thuyết
trong Kinh Thánh, Steinbeck không lặp lại mà mở rộng và đối thoại với nó. Nếu
như trong Kinh Thánh, mười hai bộ tộc người Do Thái đến được miền đất hứa đầy
“sữa và mật ong” một cách toại nguyện thì gia đình Joad và hàng trăm ngàn người
khác đến vùng đất của sự tuyệt vọng. Trong hoàn cảnh gần giống nhau, cùng một nỗ
lực, người xưa dưới sự khải thị của Chúa trời có thể mưu cầu được cho mình những
điều tốt đẹp, còn những người di cư của Chùm nho thịnh nộ vẫn đối mặt với đói
khổ và bất công. Trong thất bại này, lực lượng cản trở lớn nhất chính là sự độc
ác của con người đối với con người. Steinbeck đã đối thoại thẳng thắn với tư tưởng
cố hữu bao đời về sự tồn tại của thế giới. Trong nhìn nhận của ông, vai trò quyết
định không phải Chúa trời mà chính là ở con người. Ý thức xây dựng truyện kể
trong ngữ cảnh như thế đã tạo cho tác phẩm chiều kích phản chiếu ý nghĩa đồ sộ.
Ý nghĩa phản chiếu trong đó tác phẩm bắt lấy dư âm của các tác phẩm khác, phát
triển nó theo hướng mở rộng cấu trúc chứ không nhằm giải thích một ý nghĩa cụ
thể nào. Vì thế, đọc Chùm nho thịnh nộ người ta không chỉ xót thương cho tình cảnh
bi thảm của những con người cụ thể, những nạn nhân của thời đại khủng hoảng, mà
còn cảm nhận được nỗi đau, sự trăn trở về hiện sinh.
Steinbeck cũng sử dụng các tham chiếu
Kinh Thánh và hình ảnh Kitô giáo khác để ẩn dụ hành trình của gia đình Joad như
một biểu tượng tâm linh. Rose of Sharon được đặt tên theo một đoạn trong “Bài Ca Solomon (Nhã ca - Song of songs),
Kinh Cựu Ước”. Cái tên “Joad” nghe giống như tên của Job trong Kinh Thánh, người
mà đức tin đã bị thử thách hết lần này đến lần khác bởi những bất hạnh. Jim
Casy giống như Chúa Jesus, bị giết vì mang thông điệp tình yêu thách thức quyền
lực. Những lời cuối cùng của Casy: “Các anh không biết mình đang làm gì đâu”
vang vọng một trong những lời nói cuối cùng của Chúa Jesus với những kẻ tra tấn
Ngài: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm”. Mười
hai thành viên của gia đình Joad lên đường đến California, giống như mười hai
tông đồ của Jesus, giống như mười hai bộ tộc người Do Thái trong hành trình từ
Ai Cập đi tìm Miền đất hứa. Việc chú John đặt đứa con chết lưu của Rose of
Sharon xuống sông gợi nhớ đến việc Moses bé nhỏ được đặt trong một chiếc giỏ
trên sông Nile. Trận lụt buộc gia đình Joad phải rời khỏi toa tàu có tác động
mang tính khải huyền giống như trận lụt của Noah, ẩn dụ rằng rồi mọi thứ sẽ được
hồi sinh trở lại. Cuối cùng, hình ảnh Rose of Sharon cứu người đàn ông sắp chết
vì đói gợi đến hai hình ảnh phổ biến về Đức mẹ Maria, đó là hình ảnh Đức mẹ bế
hài nhi Chúa Jesus và hình ảnh Đức mẹ ôm Chúa Jesus bị đóng đinh trên thập tự
giá.
Cấu trúc và biện pháp nghệ thuật của Chùm nho thịnh nộ
Chùm nho thịnh nộ là một tác phẩm có
cấu trúc đặc biệt, Steinbeck đã đan xen hai thể loại khác nhau trong cuốn tiểu
thuyết của mình. Tác phẩm bao gồm 30 chương, được tổ chức xen kẽ giữa 14 chương
kể chuyện về các nhân vật với 16 chương có tính phóng sự thuật lại môi trường,
bối cảnh xã hội. 14 chương về các nhân vật là câu chuyện hư cấu có sự kiện,
hành động, sự phát triển của nhân vật và những suy tư trừu tượng hơn về xã hội,
đây là phần trung tâm của tiểu thuyết. 16 chương phóng sự xen kẽ không tham dự
vào tiến trình phát triển sự kiện của câu chuyện trung tâm mà làm nền cho câu
chuyện trung tâm đó. Nhà văn đã đưa rất nhiều chất liệu phóng sự mà ông ghi
chép được vào 16 chương này. Các chương phóng sự này có hai chức năng chính là
trình bày bối cảnh chung và cung cấp các thông tin lịch sử, xã hội. Chúng mở rộng
câu chuyện về những người nông dân di cư ra ngoài phạm vi một gia đình, nhắc nhở
người đọc rằng những khó khăn mà gia đình Joad phải đối mặt mang tính đại diện.
Những chương về các nhân vật chiếm hơn ⅘ dung lượng văn bản, cận cảnh mô tả số
phận từng con người, có mở - kết, có hành động truyện, sự kiện, tính cách, số
phận nhân vật…
Steinbeck hiểu tầm quan trọng của việc
truyền tải những thông điệp sâu sắc hơn trên bề nổi câu chuyện được kể. Nỗi đau
khổ của những gia đình di cư và sự áp bức bóc lột là một vấn đề to lớn. Nhà văn
sợ không truyền tải được vấn đề thời đại mang tính phi cá nhân này nếu độc giả
không thể nhìn thấu nỗi đau của một gia đình cụ thể. Đồng thời, ông cũng không
muốn độc giả coi hoàn cảnh của gia đình Joad là riêng lẻ. Việc sử dụng các
chương xen kẽ tạo ra sự cân bằng, cho phép Steinbeck hiện thực hóa mục tiêu nghệ
thuật tối thượng của mình là tạo ra một câu chuyện cá nhân thể hiện những chân
lý phổ quát về thân phận con người.
Cho đến tận ngày nay, nhiều độc giả vẫn
cảm thấy khó chịu với cấu trúc này, các chương phóng sự có vẻ như đã làm gián
đoạn câu chuyện chính, làm cuốn tiểu thuyết chia thành hai phần riêng biệt bằng
mối liên hệ lỏng lẻo. Tuy nhiên, khi đi sâu nghiên cứu tác phẩm, chúng ta thấy
rằng cấu trúc của Chùm nho thịnh nộ đã được Steinbeck xây dựng một cách cẩn thận
và có ý đồ. Bằng cách sử dụng nhiều phong cách và kỹ thuật văn học khác nhau, tác
giả đã khéo léo liên kết các chi tiết, đan xen các biểu tượng và đưa ra những lời
nhận xét bên ngoài về các sự kiện trong câu chuyện sao cho hai loại chương này
hòa quyện vào nhau, thống nhất và làm nổi bật các chủ đề của cuốn tiểu thuyết.
Steinbeck đã sử dụng ba thủ pháp văn học để giảm thiểu sự gián đoạn và kết nối
hai thành phần của cuốn tiểu thuyết, đó là sự đối lập, kịch tính hóa và sử dụng
nhiều phong cách văn xuôi khác nhau.
Kỹ thuật đầu tiên được sử dụng để thống
nhất hai thể loại là sự đối lập - các chương kể chuyện và phóng sự được đặt xen
kẽ liền kề nhau. Các chương phóng sự đem đến những thông tin chung và trình bày
bối cảnh lớn hơn gần với hoàn cảnh mà các nhân vật trong chương kể chuyện tiếp
theo sẽ phải trải qua. Cũng có khi các chương phóng sự toàn cảnh có ý nghĩa
khái quát, mở rộng vấn đề đã được trình bày trong chương kể chuyện trước đó.
Các chương phóng sự gần như cung cấp toàn bộ các thông tin ngoại cảnh trong tiểu
thuyết. Không cần những lời dẫn dắt, các chi tiết có mối liên hệ nhất định với
nhau tạo nên sự liền mạch bên trong cái vỏ ngoài có vẻ lỏng lẻo. Tuy nhiên, sự
kiện của chương phóng sự không phải là sự tiếp tục diễn biến của chương phóng sự
mà như là một tình huống cụ thể của bối cảnh chung. Không liên quan trực tiếp
nhưng tất cả các chương phóng sự đều có vai trò mở ra bối cảnh cho những hành động
trong câu chuyện về gia đình Joad.
Các chi tiết luôn được liên hệ với
nhau một cách nhất quán và lặp đi lặp lại giữa các chương kể chuyện và các
chương phóng sự. Thông thường, một chương phóng sự sẽ trình bày một tình huống,
hoàn cảnh, bối cảnh tổng quát mà sẽ được làm rõ hơn hoặc đi đến kết luận bởi
các sự kiện trong chương kể chuyện tiếp theo. Ví dụ, chương 7 là đoạn độc thoại
của một người bán xe cũ và được tiếp nối trong Chương 8 bằng một đoạn kể về việc
gia đình Joad chuẩn bị lên đường, sau khi vừa mua được một chiếc xe cũ. Tương tự,
Chương 29 mô tả những cơn mưa không ngớt gây lũ lụt ở thung lũng California, được
lồng ghép bởi những giọt mưa đầu tiên rơi xuống vào cuối Chương 28 và trận lũ lụt
trong Chương 30. Sự lặp lại của các yếu tố chính, thường mang tính biểu tượng
hoặc là chủ đề mà tác giả muốn nhấn mạnh, cũng góp phần liên kết hai loại
chương này. Con rùa đất, với sự kiên cường mang tính biểu tượng, băng qua đường
cao tốc được mô tả tỉ mỉ trong Chương 3, được Tom Joad nhặt lên trong Chương 4
và thả ra trong Chương 6, rồi tiếp tục hành trình theo hướng mà gia đình Joad sắp
đi tới. Tương tự như vậy, gia đình được người lạ tốt bụng cứu giúp ở cuối
Chương 9 báo trước việc gia đình Joad cứu giúp gia đình Wilson trong chương tiếp
theo.
Kỹ thuật thứ hai, có lẽ được sử dụng
nhiều nhất trong các chương phóng sự, là kỹ thuật kịch hóa. Nhà văn đã sử dụng
nhiều đoạn văn ngắn, độc thoại và đối thoại mang tính phóng sự để thể hiện bối
cảnh đằng sau các sự kiện đang xảy ra trong câu chuyện về các nhân vật. Tương tự
như các vở kịch dùng các câu chuyện trong Kinh Thánh để nhấn mạnh chủ đề cần
nói đến, Steinbeck sử dụng kỹ thuật kịch hóa để minh họa hoàn cảnh khốn khổ của
những người nông dân bị tước đoạt đất đai. Không chỉ kể về các sự kiện lịch sử
xã hội tạo nên bối cảnh cốt truyện của mình, nhà văn cho phép người đọc tự mường
tượng tác động của các sự kiện đến cuộc sống của những người nông dân.
Nhà văn đã truyền tải thành công hành
trình của gia đình Joad, phần lớn thông qua lối văn xuôi giản dị, rõ ràng và
qua phương ngữ mộc mạc của các nhân vật. Các phong cách văn xuôi khác nhau được
sử dụng trong các chương phóng sự cho phép Steinbeck làm dịu đi giọng điệu có
phần giáo điều và làm mờ ranh giới giữa hai loại chương. Phong cách nổi bật và
xuyên suốt nhất được dùng trong các chương phóng sự là ngôn ngữ và nhịp điệu gợi
nhớ đến cấu trúc cú pháp của Kinh Thánh. Có lúc, Steinbeck gợi lên khía cạnh đạo
đức của những câu chuyện trong Kinh Thánh; có lúc, ông lại thẳng thắn mang giọng
điệu lên án; đôi khi phong cách của ông gợi đến những sử thi cổ đại về những
chiến công anh hùng và những cuộc đấu tranh mang tính nguyên mẫu. Như vậy, tác
giả đã neo câu chuyện của mình vào một truyền thống phổ quát hơn, ban cho nó ý
nghĩa vượt ra ngoài các nhân vật riêng lẻ và bối cảnh cụ thể. Phong cách tường
thuật có tính thời sự được thấy trong chương về người bán xe cũ, trong khi miêu
tả cậu bé và cô bé nhảy múa trong Chương 23 lại mang tính điện ảnh. Các nhân vật
trong những chương kể chuyện dùng ngôn ngữ dân gian, mộc mạc, được lặp lại bởi
các nhân vật khái quát trong các chương phóng sự. Tuy nhiên, để phù hợp với mục
đích của các chương phóng sự là sự tổng quát của các sự kiện, không có dấu ngoặc
kép để chỉ rõ người nói cụ thể là ai. Những đoạn hội thoại ghép nối này có tác
dụng củng cố chức năng của các chương phóng sự trong việc cung cấp cái nhìn tổng
quan về tình hình xã hội ảnh hưởng đến các nhân vật trong chương kể chuyện.
Chính cách những chương phóng sự này được đan xen một cách tinh tế và không thể
tách rời khỏi mạch truyện chính, đã khẳng định sự thiên tài và thể hiện tầm
nhìn vừa mang tính cá nhân vừa mang tính nhân loại của Steinbeck.
Sử dụng kỹ thuật đan xen hai thể loại,
Steinbeck mở rộng diễn trình sự kiện theo cả chiều dọc và chiều ngang. Theo chiều
dọc, câu chuyện về gia đình Joad trong tiểu thuyết là những chi tiết về một bộ
phận cụ thể trong toàn cảnh mà phóng sự phản ánh. Trong khi đó theo chiều
ngang, các chương phóng sự toàn cảnh cho phép nhà văn có thể tự do đưa vào các
mảng hiện thực rộng lớn cùng những ý kiến bên ngoài. Cùng lúc, nhà văn có thể sử
dụng nhiều phương thức biểu đạt khác nhau: tự sự, miêu tả, nghị luận, tường thuật
phóng sự, điện ảnh.
Nhờ vậy, câu chuyện về gia đình Joad
được mở rộng hơn đến những vấn đề của cả cộng đồng, của cả thời đại. Bi kịch mà
gia đình Joad gặp phải không chỉ là bi kịch cá nhân mà là bi kịch của nhân loại.
Steinbeck muốn viết một bi kịch trên phạm vi rộng lớn trong hình thức đan cài
hai thể loại. Hai thế giới liên tục va chạm, bổ sung lẫn nhau. Với cách kết hợp
ấy, Steinbeck đã giải quyết được băn khoăn của nhiều nhà văn: làm thế nào để có
thể truyền đạt được nỗi đau của cả cộng đồng cũng như nỗi đau của mỗi cá nhân
trong tấn bi kịch chung? Không thể hiểu được nỗi đau của cả triệu người nếu
không hiểu được nỗi đau của một con người. Và khi hiểu được nỗi đau chung thì
người ta mới thấu tận được giá trị nhân sinh. Nhà văn đã đem đến cho độc giả
thông điệp đó một cách thuyết phục bằng hình thức nghệ thuật độc đáo.
Cách trần thuật của Steinbeck trong
Chùm nho thịnh nộ có điểm gần gũi với kỹ thuật “phim thời sự” của J.Dos Passos
trong tiểu thuyết Vĩ tuyến 42, với
các kỹ thuật đan xen các chương tường thuật khác nhau của H.Fielding trong tác
phẩm Tom Jones hay của Tolstoy trong
tiểu thuyết Chiến tranh và hòa bình.
Nhưng sự đan cài thể loại ở Chùm nho thịnh nộ không phải là sự cắt dán, xếp đặt
ngẫu nhiên các mảng hiện thực cạnh nhau như của Dos Passos, cũng không phải để
minh họa cho sự tương phản. Ông khéo léo sắp đặt theo trình tự thời gian xuất
hiện trước sau của các mảng hiện thực. Khi chương phóng sự toàn cảnh dừng lại
thì chương cận cảnh xuất hiện. Mảng phóng sự về sự kiện thời sự xã hội và câu
chuyện tiểu thuyết có thể tách biệt độc lập nhưng chúng trở nên hoàn hảo hơn khi
kết hợp lại với nhau.
Sự kết hợp hai thể loại trong một tác
phẩm trước hết thể hiện cách cảm nhận của Steinbeck về cuộc sống. Với ông, cuộc
sống của con người trong thế giới hiện đại nhiều bất an không thể trình giải một
cách chặt chẽ, mạch lạc trong khuôn khổ chật chội có sẵn của tiểu thuyết. Các mảng
hiện thực đưa vào tác phẩm góp phần thể hiện sự phức tạp, nhiều màu sắc của thế
giới. Thứ nữa, quan trọng hơn, khi mở rộng giới hạn tiểu thuyết, nhà văn đã làm
mới cách kể chuyện truyền thống. Dù không phá cách như các nhà Tiểu thuyết mới
sau này, Steinbeck cũng sớm bộc lộ ý hướng nghệ thuật chung với các nhà văn hiện
đại, tiểu thuyết cần cách tân. Bằng sự đan cài phóng sự trong tiểu thuyết,
Steinbeck tạo ra Chùm nho thịnh nộ thật sự là bản giao hưởng của rất nhiều văn
bản.
Một trong những sự hấp dẫn trong nghệ
thuật kể chuyện của nhà văn Steinbeck trong Chùm nho thịnh nộ là tính đối thoại,
tính đối thoại ở đây là khái niệm liên văn bản. Khái niệm liên văn bản nhắc nhở
người đọc nhận biết rằng, mỗi văn bản tồn tại trong sự liên hệ với văn bản
khác, có thể xuất hiện trước hoặc cùng thời. Hiểu một cách đơn giản, là có sự
hiện diện, quan hệ của hai hay nhiều văn bản khác trong một văn bản và người đọc
nhận ra sự hiện diện, quan hệ đó. Sự kéo dài biên cương của văn bản này đến văn
bản khác, đôi khi còn được mở rộng bởi hành vi có ý thức của người viết làm
tăng thêm tính đối thoại. Tính đối thoại vốn là thuộc tính của diễn ngôn nghệ
thuật. Mọi văn bản văn học đều mang tính đối thoại, tuy nhiên, chỉ trong văn
xuôi nghệ thuật, đặc biệt là ở thể loại tiểu thuyết, tính đối thoại nội tại mới
thực sự trở thành một thuộc tính thẩm mĩ quan trọng. Theo đó, một tiểu thuyết
- là một diễn ngôn - như là một lời phát
biểu sống động, nảy sinh một cách có ý thức trong một thời điểm lịch sử nhất định
và trong một môi trường xã hội nhất định, không thể không đụng chạm đến hàng
ngàn mối dây đối thoại đã được ý thức tư tưởng - xã hội đan dệt xung quanh đối
tượng của lời phát biểu ấy. Từ cuộc đối thoại này, nó nảy sinh như một sự tiếp
lời, như một đáp từ. Tất cả những gì có sự giao thoa, ảnh hưởng lẫn nhau, tạo
nên mối quan hệ liên đới, kích thích và phản biện với nhau đều có thể được xem
là chúng đang ở trong trạng thái đối thoại.
Về tính hiện thực, có nhiều ý kiến
cho rằng Steinbeck đã huyền thoại quá mức sự thật lịch sử. Trong hầu hết các
tác phẩm, nhà văn đều xây dựng tiểu thuyết của mình từ những dữ liệu liên quan
đến các sự kiện trong lịch sử xã hội Mỹ giai đoạn 1920 - 1940. Tuy nhiên, ông
không sử dụng dữ kiện lịch sử Mỹ theo cách nhìn trần trụi mà hình tượng hóa
chúng theo cái nhìn của một nhà văn. Có rất nhiều tư liệu lịch sử, kí sự, phóng
sự ảnh.. ghi lại diễn biến của những sự kiện lịch sử này, nhưng tác phẩm văn học
của Steinbeck mới là văn bản khắc sâu vào tâm khảm người Mỹ nói riêng và nhân
loại nói chung, đó không phải là sự ghi chép một cách máy móc mà là kết quả của
quá trình hình tượng hóa hiện thực hết sức công phu. Bằng óc liên tưởng của
mình, Steinbeck nhận thấy từ hiện thực những tình huống cho truyện kể tiểu thuyết.
Nhà văn đã kết nối các sự kiện lịch sử xã hội với những tình huống có sẵn trong
truyền thuyết, thần thoại hoặc các văn bản nghệ thuật khác để tạo nên tác phẩm
của mình. Nhờ sự kết hợp đó, tác phẩm của Steinbeck như có nhiều tiếng nói lồng
vào nhau. Một mặt, tiểu thuyết của ông đem đến cho người đọc nhiều tri thức lịch
sử xã hội. Đó là câu chuyện về những mối quan hệ trong tự nhiên, xã hội những
năm sau Đại khủng hoảng. Mặt khác, phía sau những biến cố lịch sử được kể lại
là cấu trúc có tính chất mô hình hóa toàn bộ thế giới. Mỗi tình tiết xuất hiện
trong tác phẩm đều gợi đến một câu chuyện khác có ý nghĩa sâu xa như những huyền
thoại. Steinbeck đã liên kết với chúng bằng liên tưởng nhằm mở rộng ý nghĩa
truyện kể của mình theo chiều sâu, không những ngầm đối thoại với những tác phẩm
đã dựng nên những tình huống đó mà còn đối thoại với lịch sử. Sức mạnh của Chùm
nho thịnh nộ tất nhiên không phải ở lịch sử trần trụi, khô cứng. Giữa hiện thực
đó nổi lên hình tượng gia đình Joad với khát vọng được sống đúng với khả năng của
mình, nhưng sự nỗ lực của họ gặp vô vàn cản trở và chưa đi đến kết quả xứng
đáng nào. Ma Joad có thể là hình tượng, là nhân vật trung tâm của tiểu thuyết,
nhưng khi đặt bà vào diễn biến của lịch sử xã hội hiện đại thì hình tượng này vẫn
không vượt qua được những lực lượng cản trở của hiện thực xã hội. Không thể phủ
nhận tính cách mạnh mẽ, nhân hậu, luôn có niềm tin khiến Ma Joad trở thành một
nhân vật quan trọng. Nhưng cho đến kết thúc tác phẩm, mong muốn giữ được gia
đình, có việc để làm và có một ngôi nhà nhỏ trú thân vẫn không thành hiện thực,
thậm chí cuộc sống còn bi thảm hơn khi gia đình ly tán, không chốn nương thân,
đói khát. Kết thúc này đặt ra câu hỏi đau đớn còn ngỏ câu trả lời. Trước những
thay đổi quá lớn của thời đại công nghiệp, những nỗ lực vượt qua hoàn cảnh của
bà đã đem lại được gì cho bà và gia đình? Dường như bi kịch về sự thất bại của
con người mới là cảm hứng chủ đạo, lịch sử chỉ là cái nền. Vì thế, ấn tượng của
tác phẩm với người đọc không chỉ ở các sự kiện lịch sử khốc liệt hay những tính
cách, chân dung tâm lý mà còn ở chính tâm trọng của tình huống truyện. Gợi nên
không khí bất an của thời đại, Steinbeck đã hướng người đọc đến ý nghĩa nhân
sinh ở tầm phổ quát, sự suy tư về hiện tồn của con người. Lịch sử là yếu tố mở
rộng đường biên tiểu thuyết, giúp nhà văn tăng thêm chiều kích cho truyện kể.
Tiểu thuyết không có phán xét duy nhất đúng về các sự kiện lịch sử mà chỉ phơi
bày chúng như những giả thuyết về đời sống để độc giả tự tìm giải pháp. Trên nền
lịch sử đã được hình tượng hóa là hình ảnh của con người nhỏ bé, bất lực trong
cuộc chiến sinh tồn. Với cảm nhận khách quan, tinh nhạy về những biến đổi sâu sắc
bên trong xã hội hiện đại, bằng câu chuyện đơn giản, Steinbeck đã giải phóng
cách nhìn chỉ ca ngợi hoặc phê phán một chiều về cuộc xung đột xã hội. Lịch sử
chỉ là cái cớ để nhà văn triển khai trong hình thức tiểu thuyết những băn
khoăn, trăn trở về thân phận con người. Những băn khoăn mà các thế hệ sau vẫn
tiếp tục đặt ra và không ngừng tìm kiếm câu trả lời.
Do đó, Chùm nho thịnh nộ không phải
là “một câu chuyện” một nghĩa mà là “nhiều câu chuyện” với nhiều tầng nghĩa.
Hơn thế, với các kết nối liên văn bản, nhà văn đã tạo ra một tác phẩm mà ở đó,
mỗi truyện chỉ đóng vai trò là một tồn tại của hiện thực, vấn đề cần giải quyết
không chỉ trong phạm vi truyện kể mà là những mâu thuẫn lớn hơn, ở ngoài tác phẩm,
ở những “đối thoại” bất tận về hiện sinh của con người mà ông còn bỏ ngỏ. Đó
chính là lý do tại sao chúng ta vẫn đọc Chùm nho thịnh nộ cũng như các tiểu
thuyết của ông - những tác phẩm hầu như
chỉ nói về các sự kiện của một thời.

0 comments:
Post a Comment