Ở phần trước, chúng tôi đã giới thiệu về bối cảnh thời đại, những năm tháng thơ ấu, những năm đầu sự nghiệp và đời sống hôn nhân của Thomas Jefferson. Phần này, chúng tôi tiếp tục giới thiệu đến bạn đọc chặng đường tiếp theo trong cuộc đời của ông, những năm tháng Cách mạng và những tình tiết xung quanh sự ra đời của bản Tuyên ngôn Độc lập.
Phần trước: Cuộc đời Thomas Jefferson: Tuyên ngôn Độc lập và những mặt đối lập (Phần 1)
Những căng thẳng chính trị giai đoạn 1770 - 1775
Trong những năm đầu thập niên 1770,
Viện Dân biểu và Quốc hội Anh duy trì mối quan hệ tương đối tốt đẹp, nhưng đó
chỉ là một trạng thái ổn định tạm thời. Năm 1773, đế quốc Anh một lần nữa rơi
vào khủng hoảng tài chính, lần này không phải do chi phí quân sự mà do gánh nặng
từ Công ty Đông Ấn Anh, vốn đang đứng trên bờ vực phá sản với khối lượng trà tồn
kho khổng lồ. Nhằm giải cứu thực thể kinh tế cốt lõi này, Quốc hội Anh đã thông
qua Đạo luật Trà (Tea Act), cho phép
công ty được quyền xuất khẩu trực tiếp và độc quyền phân phối trà sang các thuộc
địa Bắc Mỹ mà không cần thông qua các thương nhân trung gian hay nộp thuế tại
chính quốc.
Bằng biện pháp này, người Anh hy vọng
sẽ thu lợi đôi đường, vì doanh số bán hàng của Công ty Đông Ấn sẽ tăng lên,
trong khi thuế nhập khẩu trà hiện hành vẫn tạo ra nguồn thu đều đặn từ châu Mỹ.
Về mặt kinh tế, kế hoạch này hoàn toàn hợp lý, bởi trà do công ty thu mua từ
Trung Quốc có giá rẻ hơn đáng kể so với trà buôn lậu của Hà Lan ngay cả khi đã
tính thêm thuế. Dù vậy, Đạo luật Trà lại ẩn chứa một sai lầm chí mạng về mặt
chính trị mà Quốc hội Anh hoàn toàn không lường trước được.
Sai lầm đó chính là bản chất “hối lộ
hiến pháp” của sắc lệnh này. Lord North và các nghị sĩ London tin rằng bằng
cách hạ giá trà xuống mức quá rẻ như vậy, người dân thuộc địa sẽ bị cám dỗ mà
chấp nhận đóng khoản thuế phụ thu đi kèm. Tuy nhiên, giới trí thức thuộc địa -
bao gồm cả Jefferson - đã lập tức nhìn thấu âm mưu này; họ coi đây là một đòn hối
lộ thâm độc hòng ép người dân thuộc địa từ bỏ nguyên tắc cốt lõi “Không đóng thuế nếu không có đại diện”.
Hơn thế nữa, việc trao quyền độc quyền phân phối cho Công ty Đông Ấn đã trực tiếp
đe dọa sinh kế của giới thương nhân bản địa, buộc họ phải đấu tranh và từ đó
hình thành liên minh chặt chẽ với phe cách mạng. Trà từ một thức uống xa xỉ trở
thành biểu tượng của sự áp bức, châm ngòi cho phong trào phản kháng của người
dân thuộc địa.
Một lần nữa, các thuộc địa
Massachusetts và Virginia lại đi đầu trong phong trào phản đối. Đỉnh điểm của
làn sóng phẫn nộ này đã bùng nổ vào đêm ngày 16 tháng 12 năm 1773 tại
Massachusetts, qua sự kiện mang tính bước ngoặt được lịch sử gọi tên là Tiệc trà Boston (Boston Tea Party). Nhằm
ngăn chặn dòng trà độc quyền cập cảng, một nhóm người thuộc tổ chức Cách mạng Sons of Liberty (Những đứa
con của tự do) do Samuel Adams đứng đầu, đã cải trang thành thổ dân Da đỏ,
đột nhập lên ba con tàu Anh và đổ hơn 340 thùng trà nặng 90.000 pound (khoảng
40.800 kg) xuống vịnh Boston. Những hành động tương tự cũng xảy ra trong một cuộc
phản đối liên quan tại New York vào tháng 4 năm sau.
Phản ứng trước sự thách thức mang
tính bạo loạn này, Vua George III và Quốc hội Anh đã lập tức từ bỏ chính sách
xoa dịu để chuyển sang các biện pháp trừng phạt tàn khốc. Vào mùa xuân năm
1774, London thông qua một chuỗi các đạo luật hà khắc được gọi là các Đạo luật Cưỡng chế (Coercive Acts), người
dân thuộc địa gọi các đạo luật này bằng cái tên đầy căm hận là Đạo luật Không thể Dung thứ (Intolerable
Acts). Trong số đó, một trong những đạo luật gây bất bình nhất là Đạo luật Cảng Boston, quy định phong tỏa
toàn diện cảng Boston, giải tán chính quyền tự trị Massachusetts, và buộc người
dân địa phương phải bố trí chỗ ở cho quân đội chiếm đóng của Hoàng gia, bắt đầu
có hiệu lực từ ngày 1 tháng 6 năm 1774. Trong những ngày chờ đến thời điểm đạo
luật này chính thức áp dụng, Viện Dân biểu Virginia (House of Burgesses) đã họp
bàn để bảo vệ quyền lợi của những người dân thuộc địa đồng bào ở Massachusetts.
Một ngày ăn chay và cầu nguyện đã được tuyên bố, và một nghị quyết đoàn kết, do
Jefferson cùng các đồng sự trẻ tuổi soạn thảo, đã được thông qua. Cho rằng nghị
quyết này sử dụng ngôn từ mang tính kích động, ngày 26 tháng 5 năm 1774, Thống đốc hoàng gia Lord Dunmore, đã giải
tán Viện Dân biểu Virginia một lần nữa. Ngay ngày hôm sau, các đại biểu bị
bãi nhiệm (bao gồm Jefferson, Washington, Patrick Henry) tổ chức một cuộc họp tại
quán rượu Raleigh Tavern. Tại đây, họ nhất trí thành lập một hiệp hội tẩy chay hàng nhập khẩu từ chính quốc, đồng
thời đề xuất trợ giúp tổ chức một cuộc họp giữa các nhà lãnh đạo từ nhiều thuộc
địa, lấy tên là Đại hội Lục địa lần thứ
nhất, dự kiến diễn ra tại Philadelphia vào tháng 9.
Hội nghị Virginia Lần thứ nhất được tổ
chức vào tháng 8 năm 1774 nhằm mục đích bầu chọn các đại biểu tham dự Đại hội Lục
địa lần thứ nhất. Jefferson không may mắc bệnh kiết lỵ rồi trở nên nặng hơn
trên đường đến tham dự hội nghị nên không thể có mặt. Do tình hình sức khỏe,
Jefferson phải quay về điền trang Monticello để dưỡng bệnh và lỡ hẹn với cả Hội
nghị Virginia lẫn chuyến đi Philadelphia. Mặt khác, vào năm 1774, Jefferson vẫn
là một nghị sĩ trẻ ở tuổi 31 và chưa phải là thủ lĩnh đứng đầu phái cách mạng của
Virginia. Xứ Virginia lúc đó đã bầu ra 7 đại biểu chính thức có uy tín và thâm
niên lớn hơn ông rất nhiều để đi dự Đại hội Lục địa lần thứ nhất, bao gồm:
Peyton Randolph, George Washington, Patrick Henry, Richard Henry Lee, Benjamin
Harrison, Edmund Pendleton, và Richard Bland. Dù vậy, ông vẫn kịp gửi một bản
hướng dẫn dự thảo tới Hội nghị Virginia, văn kiện này sau đó được in thành cuốn
luận thuyết chính trị đầu tay chấn động mang tên A Summary View of the Rights of
British America (Cái nhìn Tổng quát về Quyền lợi của vùng Bắc Mỹ thuộc Anh).
Vào thời điểm được soạn thảo, tác phẩm này được coi là quá cấp tiến và không được
hội nghị thông qua. Tuy nhiên, nó đã lập
tức nâng cao uy tín của Jefferson với tư cách là một nhà tư tưởng cách mạng sắc
bén, đặc biệt là khi tác phẩm được in lại dưới dạng những cuốn sách nhỏ và
truyền tay tới giới tinh hoa lãnh đạo có nhiều ảnh hưởng.
Luận điểm chính của Jefferson trong A Summary View of the Rights of British
America là phủ nhận hoàn toàn thẩm quyền pháp lý của Quốc hội Anh. Ông khẳng
định rằng, người dân thuộc địa chỉ phục tùng duy nhất Quốc vương Anh, và thậm
chí chỉ phục tùng một vị vua công minh, người hành động vì lợi ích tốt nhất của
những thần dân mà ông cai trị. Đối mặt với sự bất công, người dân thuộc địa có
quyền đấu tranh vô hiệu hóa thẩm quyền của Quốc vương. Jefferson đã dẫn lại lịch
sử để củng cố cho luận điểm mang tính cách mạng của mình. Trong quá khứ, khi
các bộ tộc Anglo-Saxon đến định cư tại Quần đảo Anh vào thế kỷ V và VI, các
vương quyền bản xứ của họ đã không hề đòi hỏi hay áp đặt thẩm quyền lên người
dân ở vùng đất mới. Tương tự như vậy, vương quyền Anh tất yếu sẽ phải nới lỏng
và cuối cùng là mất quyền kiểm soát đối với các thuộc địa Mỹ.
Trong khi đó, Thống đốc hoàng gia
Lord Dunmore lại quyết tâm củng cố quyền kiểm soát của Anh đối với Virginia
thay vì để nó suy yếu trước làn sóng tự trị ngày một dâng cao của người dân thuộc
địa. Sau Chiến tranh Bảy năm, người Pháp đã bị loại bỏ theo các điều khoản của
Hiệp ước Paris năm 1763, nhưng biên giới phía tây của thuộc địa vẫn luôn bị đe
dọa bởi người Shawnee và các bộ tộc bản địa. Nhằm thiết lập sự kiểm soát và bảo
vệ các vùng đất biên viễn, Dunmore đã xây dựng một lực lượng dân binh từ người
dân Virginia, bất chấp những bất đồng gay gắt với Viện Dân biểu về quyền tài
phán quân sự. Hành động này diễn ra trong bối cảnh quyền lực thực tế đã tuột khỏi
tay Thống đốc; dù ông đã ra lệnh giải tán Viện Dân biểu, các nghị sĩ thuộc địa
vẫn ngang nhiên hoạt động dưới những hình thức khác nhau để tự quản lý Virginia
và nắm quyền tài phán quân sự.
Nhiều người, trong đó có cả
Jefferson, phẫn nộ trước sự lạm dụng quyền lực này và cũng coi đó là một nước cờ,
nhằm tránh sự chú ý của người dân thuộc địa vào những căng thẳng ngày càng lớn
liên quan đến vấn đề thuế khóa. Dù vậy, ngày 10 tháng 10 năm 1774, lực lượng
dân binh vẫn vượt qua Dãy núi Blue Ridge để tiến vào vùng đất ngày nay là
Kentucky, tại đây họ đã chạm trán và đánh bại liên minh người Shawnee sau một
trận chiến đẫm máu tại Point Pleasant. Chiến thắng này buộc các tộc trưởng bản
địa phải ký kết thỏa thuận hòa bình, tạm thời lập lại trật tự ở vùng biên viễn.
Thế nhưng, trong khi chủ quyền của
Anh ở vùng biên viễn được củng cố, thì mối quan hệ giữa chính quốc và người dân
thuộc địa lại càng trở nên phức tạp. Điều này thể hiện rõ ngay trong chính hoàn
cảnh cá nhân của Jefferson, những người thân thuộc bên ngoại (nhà Randolph) đã
đứng ở hai bên chiến tuyến đang dần hình thành: Peyton Randolph vừa mới chủ trì
Hội nghị Virginia Lần thứ nhất, còn người anh ruột John Randolph kiên định giữ
lập trường bảo vệ trung thành cho phe hoàng gia.
Những lợi ích kinh tế của Jefferson
cũng bị ảnh hưởng nặng nề do cuộc xung đột này. Vào cuối năm 1773, ông đã cùng
nhà trồng nho người Ý Philip Mazzei thành lập một công ty trồng nho và ô liu
ngay sát điền trang Monticello. Thế nhưng, khi căng thẳng giữa chính quốc và
thuộc địa gia tăng, dự án đầy hứa hẹn này đã phải bỏ dở giữa chừng. Bên cạnh
đó, những hoạt động kinh tế khác của Jefferson còn gặp khó khăn vì nhiều lý do.
Hơn nữa, ông vừa dựa trên thực tế để kiếm tiền vừa muốn nó phải phù hợp với những
quan điểm đạo đức của mình. Giá thuốc lá đã bị giảm đều đặn, và hơn thế nữa,
Jefferson cho rằng việc sản xuất thực phẩm có ý nghĩa nhân văn hơn so với sản
xuất chất gây nghiện. Cuối cùng, bất kỳ nguồn thu tài chính nào thu gom được đều
bị triệt tiêu bởi chi phí thuê mướn các thợ thủ công và quản điền da trắng để
xây dựng Monticello, đẩy ông vào thế bất lợi lớn trước sự cạnh tranh gay gắt từ
các điền trang lớn sử dụng phương thức bóc lột lao động nô lệ nặng nề.
Luôn đi trước thời đại, vừa được ban
tặng những đặc quyền lại vừa phải gánh chịu sức nặng từ tầm nhìn ấy, Jefferson
đã đanh thép bày tỏ sự bất mãn khi nhận được tin tức về biên bản cuộc họp của Đại
hội Lục địa lần thứ nhất tại Philadelphia. Mặc dù các đại biểu tại đó đã chỉ
trích một số chính sách của chính quốc và thống nhất triển khai một chiến dịch
tổng tẩy chay hàng hóa Anh, Jefferson lại
tin rằng họ vẫn chưa đi đủ xa và quyết liệt trong các hành động phản kháng của
mình. Kết thúc phiên họp, các đại biểu đã nhất trí sẽ tái nhóm họp vào
tháng 5 năm 1775 nếu chính phủ chính quốc không thực hiện các bước đi cần thiết
để giải quyết những bất bình của các thuộc địa. Những đấu tranh ban đầu với mục
đích giành quyền lợi chính đáng, giờ đây đang nhanh chóng phát triển thành một
cuộc khởi nghĩa có tổ chức.
Bắt đầu Chiến tranh Cách mạng và sự ra đời của Bản Tuyên ngôn Độc lập Mỹ (1775 - 1776)
Trong khi Hội nghị Virginia lần thứ
nhất tổ chức tại Williamsburg có thể coi là một sự kiện mở đường, thì Hội nghị
Virginia lần thứ hai - diễn ra chỉ hơn 6 tháng sau đó - lại mang tầm vóc chiến
lược và quyết liệt hơn nhiều. Nhận thấy cuộc họp này dễ vấp phải sự can thiệp
quân sự hoặc trấn áp từ phe hoàng gia, các đại biểu đã nhất trí chuyển địa điểm
tới Richmond sâu trong đất liền, rời xa trung tâm quyền lực của Thống đốc hoàng
gia tại Williamsburg. Mục đích ban đầu của Hội nghị Virginia lần thứ hai, diễn
ra từ ngày 20 đến 27 tháng 3 năm 1775 tại Nhà thờ giáo xứ St.John, là xem xét lại
các chính sách và lập trường của các đại biểu được cử đến Đại hội Lục địa lần
thứ hai, dự kiến diễn ra tại Philadelphia vào tháng 5 tới. Nhưng ngay khi nhiệm
vụ đó hoàn thành, Hội nghị đã lập tức chuyển trọng tâm sang vấn đề tự vũ trang
và bảo vệ xứ Virginia.
Phần lớn đại biểu tham dự hội nghị đã
tỏ ra phẫn nộ trước Đạo luật Quebec
vừa được thông qua, đạo luật này đã mở rộng quyền kiểm soát của đế quốc Anh tới
khu vực biên giới vùng Hồ lớn (Great Lakes), đi ngược lại những tuyên bố chủ
quyền chồng chéo của Virginia và một số thuộc địa khác. Hành vi xâm phạm lãnh
thổ này, cùng với những biện pháp cứng rắn vẫn tiếp diễn tại cảng Boston và các
vùng duyên hải phía đông bắc, đã khơi dậy làn sóng đấu tranh mạnh mẽ của các đại
biểu và người dân thuộc địa.
Patrick Henry đã chủ trương thành lập lực lượng dân quân tự trị
để sẵn sàng bảo vệ vùng đất Virginia, một biện pháp quyết liệt mà những người
thuộc phe cấp tiến như Jefferson hoàn toàn ủng hộ. Ngược lại, một số đại biểu
thuộc phe ôn hòa như Edmund Pendleton, Richard Bland lại bày tỏ sự e dè, lo ngại
rằng đây sẽ là một sự khiêu khích và là lời tuyên chiến với đế chế Anh. Cuối
cùng, đề xuất đầy táo bạo này đã được thông qua một cách sít sao nhờ bài diễn
văn mang tính bước ngoặt của Patrick Henry với lời đúc kết bất hủ: “Cho
tôi tự do, hoặc cho tôi cái chết!” (Give me liberty, or give me death!).
Ngay sau khi chủ trương này được phê chuẩn, Jefferson cùng với George
Washington, Richard Henry Lee và Patrick Henry đã trở thành các thành viên cốt
cán của một ủy ban, chịu trách nhiệm soạn thảo và thực thi kế hoạch phòng thủ
toàn diện cho Virginia.
Lời kêu gọi vũ trang phù hợp với bầu
không khí chung trên toàn lục địa. Chưa đầy 3 tuần sau, vào ngày 19 tháng 4 năm
1775, những tiếng súng đầu tiên của cuộc
Chiến tranh Cách mạng Mỹ (Chiến tranh Giành độc lập) đã chính thức vang lên tại
các trận Lexington và Concord ở Massachusetts. Phải mất 3 tuần để tin tức
chấn động này đến được Virginia. Trong thời gian đó, Jefferson đã trở về
Monticello tích cực chuẩn bị cho vai trò chỉ huy trong lực lượng dân quân tự trị
Virginia, đồng thời hồi hộp chờ đợi lệnh triệu tập tư cách đại biểu dự khuyết tại
Đại hội Lục địa lần thứ hai, vốn vừa mới bắt đầu nhóm họp tại Philadelphia.
Khi tin tức về những cuộc chiến tại
Lexington và Concord lan rộng, toàn bộ dải duyên hải phía Đông bừng bừng khí thế
cách mạng. Thống đốc Dunmore buộc phải triệu tập một phiên họp khẩn cấp với Viện
Dân biểu vào ngày 1 tháng 6 năm 1775, tại đây ông đã trình bày một đề xuất từ
Quốc hội Anh nhằm cố gắng hòa giải với các thuộc địa. Nội dung chính của đề xuất
này là chính quốc sẽ tạm hoãn các sắc thuế trực tiếp, đổi lại, các thuộc địa phải
tự nguyện đánh thuế người dân của mình để nộp về một khoản kinh phí cố định nhằm
chi trả cho chi phí quốc phòng và bộ máy hành chính hoàng gia tại Bắc Mỹ.
Nhưng một giải pháp thỏa hiệp nửa vời
như vậy không thể được Jefferson hay người dân Virginia chấp nhận. Thay mặt Viện
Dân biểu, Jefferson đã soạn thảo một bản nghị quyết đanh thép gửi tới Thống đốc
hoàng gia Lord Dunmore, trong đó ông nhấn mạnh rằng, quyền sở hữu tài sản và đánh thuế của người dân thuộc địa là bất khả
xâm phạm, bất kỳ sự can thiệp nào từ bên ngoài cũng chỉ là biến tướng hình thức
của sự áp đặt. Nghị quyết này nhanh chóng được Viện Dân biểu Virginia thông
qua ngày 10 tháng 6 năm 1775. Khi Jefferson mang văn kiện này tới Philadelphia,
Đại hội Lục địa lần thứ hai đã lập tức phê chuẩn và dùng chính những lập luận sắc bén của ông làm câu trả lời chính thức
cho toàn bộ 13 thuộc địa gửi chính quốc Anh.
Khi Thống đốc Lord Dunmore nhận ra việc
hòa giải là không thể, rạng sáng ngày 8 tháng 6 năm 1775 ông đã lén lút rời bỏ
dinh thự, tìm đến nơi an toàn bằng cách trốn lên tàu chiến HMS Fowey của Anh
ngoài khơi Yorktown, chính thức từ bỏ quyền cai trị Virginia. Chỉ 4 ngày sau
đó, vào ngày 12 tháng 6 năm 1775, người bác họ của Jefferson là Peyton Randolph
nhận thấy, bản thân không thể tới Đại hội Lục địa mà phải ở lại Williamsburg để
làm chỗ dựa cho Viện Dân biểu trong tình thế bão táp này. Ông đã khuyến khích
và trao lại quyền lên đường tới Philadelphia cho Jefferson để thay thế vị trí của
mình. Nhờ bước ngoặt định mệnh đó, vào giữa tháng 6 năm 1775, ở độ tuổi 32 còn
rất trẻ, Jefferson đã chính thức vươn
lên trở thành một nhân tố then chốt, nắm giữ vận mệnh của cuộc cách mạng vừa mới
phôi thai.
Jefferson đặt chân đến Philadelphia
vào giữa mùa hè năm 1775, ngay sau một trong những trận chiến khốc liệt và đẫm
máu nhất trong giai đoạn mở màn: trận Bunker Hill tại Charlestown,
Massachusetts. Trận đánh này đã gây chấn động toàn lục địa khi cướp đi sinh mạng
của hơn 360 người và khiến hơn 1.100 binh sĩ của cả hai phe bị thương. Sự tàn
khốc đó đã khiến việc soạn thảo một nghị quyết chiến tranh từ Đại hội Lục địa lần
thứ hai trở nên cấp bách hơn bao giờ hết. Vào ngày 23 tháng 6 năm 1775, chỉ hai
ngày sau khi đến nơi, Jefferson đã chính thức được bổ nhiệm làm thành viên của
một ủy ban đặc biệt để tham gia soạn thảo văn kiện lịch sử: “Declaration
on the Causes and Necessity of Taking Up Arms” (Tuyên bố về các nguyên nhân và
sự cần thiết của việc cầm vũ khí).
Văn kiện lịch sử này đã trải qua ba lần
soạn thảo để đi đến sự thống nhất. Bản thảo ban đầu do đại biểu John Rutledge
thuộc đoàn Nam Carolia viết bị đánh giá là quá nhạt nhòa, không còn phù hợp với
thực tế sục sôi sau trận Bunker Hill, buộc ủy ban phải mở rộng nhân sự nhằm thúc
đẩy các cuộc thảo luận. Bản thảo thứ hai do Jefferson đảm nhiệm lại bị đa số đại
biểu coi là quá cứng rắn và mang tính cực đoan. Cuối cùng, chỉ đến bản thảo thứ
ba, do John Dickinson thuộc phe ôn hòa ở Pennsylvania chỉnh sửa và chuốt lại dựa
trên chính bộ khung lý luận của Jefferson, thì văn kiện mới nhận được sự ủng hộ
đồng thuận từ Đại hội.
Trong năm tiếp theo, Jefferson đã phải
di chuyển liên tục giữa Monticello và Philadelphia 3 lần. Giữa lúc chiến tranh
ngày một khốc liệt, sự xung đột giằng xé giữa tình cảm gia đình và lý tưởng
cách mạng hiện rõ hơn bao giờ hết. Sự nghiệt ngã ấy hiển hiện ngay khi ông chứng
kiến người chú họ John Randolph - một người theo phe bảo hoàng - buộc phải thu
dọn hành lý để trốn sang Anh vào mùa thu năm 1775; trước khi đi, John đã bán lại
chiếc đàn vĩ cầm Ý yêu quý của mình cho Jefferson, một nốt lặng đầy cay đắng của
sự chia cắt tình thân. Dù vùng nông thôn Piedmont và điền trang Monticello tạm
thời nằm ngoài tầm quét của các cuộc đột kích ven biển do Thống đốc Dunmore phát
động, gia đình Jefferson vẫn không được bình yên. Gánh nặng từ các sự kiện
chính trị vĩ mô cùng với tình trạng bệnh tình triền miên của người vợ Martha đã
trở thành nỗi lo âu thường trực, bóp nghẹt tâm trí của vị đại biểu trẻ tuổi
ngay giữa nghị trường.
Khi cuộc chiến tiếp tục có những diễn
biến căng thẳng, hai cái chết liên tiếp trong gia đình đã giáng một đòn nặng nề
đẩy Jefferson đến bờ vực của sự tuyệt vọng. Tháng 9 năm 1775, người con thứ hai
đột ngột qua đời, khi đó bé Jane mới được 17 tháng tuổi; đây là mất mát đau
thương đầu tiên trong chuỗi bi kịch mất con suốt chặng đường làm cha của
Jefferson. Sau đó không lâu, vào tháng 3 năm 1776, mẹ của Jefferson là bà Jane
Randolph Jefferson qua đời đột ngột ở tuổi 57 vì một cơn đột quỵ. Mặc dù mối
quan hệ giữa hai người có những xung đột từ thời ông còn niên thiếu, sự mất mát
này vẫn để lại nỗi đau sâu sắc; ông đã phải nằm liệt giường suốt hơn 1 tháng trời
do những cơn đau nửa đầu bùng phát dữ dội.
Trong thời gian Jefferson vắng mặt tại
Philadelphia, “tinh thần năm 76” (The Spirit of ’76) thực sự đã bộc lộ trọn vẹn
sức mạnh của nó. Tinh thần năm 76 là một thuật ngữ lịch sử kinh điển biểu thị
cho lý tưởng yêu nước, khát vọng tự do dân chủ và ý chí quyết tâm dứt khoát đoạn
tuyệt với vương quyền Anh của người dân thuộc địa Bắc Mỹ vào năm lịch sử 1776.
Vào ngày 10 tháng 1 năm 1776, một người mới di cư từ Anh sang tên là Thomas
Paine đã xuất bản cuốn tiểu luận có nhan đề “Common Sense” (Lẽ phải),
tiểu luận này đã đưa ra những lập luận đanh thép và logic ủng hộ việc các thuộc
địa thiết lập nền độc lập khỏi vương quyền Anh. Tác phẩm của Paine nhanh chóng
lan rộng và thổi bùng ngọn lửa cách mạng trên khắp các thuộc địa, đặc biệt là ở
Virginia. Tại đây, vào ngày 6 tháng 5 năm 1776, Viện Dân biểu thuộc địa đã họp phiên cuối cùng và chính thức tuyên bố
giải thể vĩnh viễn, kết thúc kỷ nguyên thuộc địa để nhường quyền lực cho Hội nghị Virginia lần thứ năm. Giữa tháng 5
năm 1776, Jefferson trở lại ghế đại biểu tại Đại hội Lục địa ở Philadelphia. Chỉ
vài tuần sau đó, vào ngày 29 tháng 6 năm 1776, Hội nghị Virginia lần thứ 5 đã
thông qua bản Hiến pháp mới, chính thức thành lập chính quyền tự trị cho bang Virginia và khai sinh ra Viện Đại biểu Virginia (Virginia House of
Delegates). Đứng trước bước tiến vĩ đại này, từ Philadelphia Jefferson đã
nhanh chóng soạn thảo 3 bản dự thảo hiến pháp gửi về quê nhà Virginia. Bản dự
thảo thứ 3 ông gửi về muộn nhưng phần Mở đầu xuất sắc đến mức các đại biểu
Virginia đã cắt nó ra để ráp thẳng vào làm Lời mở đầu cho Hiến pháp chính thức
của bang.
Vào ngày 15 tháng 5 năm 1776, ngay
sau khi Jefferson vừa trở lại Philadelphia, Đại hội Lục địa đã chính thức ban
hành Lời mở đầu cho một nghị quyết mang tính bước ngoặt do John Adams khởi xướng,
kêu gọi mỗi thuộc địa tự chủ động thiết lập các phương án tự quản riêng. Trên
thực tế, tiến trình giành độc lập đã bước
vào giai đoạn không thể đảo ngược; tất cả những gì còn lại chỉ là việc đưa ra một
lời tuyên bố chính thức trước toàn thế giới. Và trong khi Jefferson đang dốc
sức điều chỉnh các nội dung trong bản thảo Hiến pháp Virginia của mình, những
cuộc thảo luận nghị trường về một nghị quyết độc lập chính thức ngày một trở
nên ráo riết và khẩn trương.
Vào ngày 7 tháng 6 năm 1776, Richard
Henry Lee đại diện cho Virginia đã đưa ra một nghị quyết lịch sử trước Đại hội
Lục địa với nội dung rằng: “các Thuộc địa
Hợp nhất này là, và theo quyền tự nhiên phải là, các bang tự do và độc lập; đồng
thời mọi mối liên hệ chính trị giữa các bang nói trên và vương quyền Anh phải
và nên bị xóa bỏ hoàn toàn”. Thay vì vội vã thông qua một nghị quyết quan
trọng như vậy, những người thuộc phe ôn hòa đã đề xuất trì hoãn cuộc bỏ phiếu để
các phái đoàn xin thêm chỉ thị từ quê nhà. Để không lãng phí thời gian, vào
ngày 11 tháng 6 năm 1776, Đại hội đã thành lập Ủy ban Năm người (Committee of
Five) bao gồm Adams, Franklin, Jefferson, Roger Sherman và Robert R.
Livingston để soạn thảo một bản tuyên
ngôn độc lập chính thức nhằm ủng hộ nghị quyết của Lee. Từ nhóm tinh hoa
này, Jefferson đã được tin tưởng lựa chọn
làm người trực tiếp chấp bút biên soạn văn kiện nhờ vào năng lực lập luận xuất
sắc và ngòi bút sắc bén vượt trội của mình.
Trước khi được chọn vào Ủy ban Năm
người, Jefferson rất muốn trở về quê nhà để tham gia trực tiếp viết Hiến pháp
Virginia. Nhưng khi được Đại hội lựa chọn, ông đã bỏ lại mọi sự phân tâm để bắt
tay vào công việc này. Khi năm thành viên của Ủy ban nhận nhiệm vụ, không ai trong số họ có thể ngờ rằng tên tuổi
của mình sẽ trở nên trường tồn nếu nó được gắn liền với bản Tuyên ngôn Độc lập,
và vận mệnh đó đã đặt vào tay Thomas
Jefferson. Đứng trước nhiệm vụ này, Benjamin Franklin đang bị bệnh gút nặng,
Robert Livingston và Roger Sherman rất bận rộn với công việc ở các ủy ban điều
hành chiến tranh, còn John Adams thì chủ động nhường lại cho Jefferson vì nể phục
tài năng viết lách xuất chúng và thanh nhã của ông. Sau khi được Ủy ban Năm người
giao trọng trách, Jefferson đã dốc toàn bộ tâm sức, nhốt mình trong căn phòng
trọ thuê của người thợ gạch Jacob Graff tại Philadelphia, ông đã làm việc suốt
17 ngày (từ ngày 11 đến 28 tháng 6) để nghiên cứu và chấp bút. Bản thảo đầu
tiên đầy những vết xóa, sửa lỗi và gọt giữa, điều đó cho thấy ông đã làm việc
vô cùng căng thẳng và nghiêm túc.
Thomas Jefferson đệ trình bản thảo
lên Đại hội Lục địa vào ngày 28 tháng 6 năm 1776. Đến ngày 2 tháng 7 năm 1776,
Đại hội chính thức bỏ phiếu thông qua Nghị
quyết Độc lập của Richard Henry Lee. Sau đó, từ ngày 2 đến ngày 4 tháng 7,
nghị trường tiến hành xem xét kỹ lưỡng từng
ngôn từ trong bản Tuyên ngôn Độc lập của Jefferson: sửa đổi những chỗ chưa
rõ ràng và cắt bỏ khoảng một phần tư nội dung để đạt được sự đồng thuận cao nhất.
Jefferson đã lặng người đau lòng khi phải chứng kiến các đại biểu mổ xẻ và lược
bỏ nhiều từ ngữ mà ông đã tốn bao công sức gọt giũa, đặc biệt là đoạn văn ông
đanh thép lên án chế độ nô lệ. Theo quan điểm của ông, một văn kiện cách mạng
không bao giờ được viết theo kiểu do dự hay né tránh, bởi bản chất của một cuộc
cách mạng đồng nghĩa với việc sẽ có rất ít, hoặc gần như không có cây cầu kết nối
nào với vương quyền cũ được phép giữ lại.
Một trong những thất vọng lớn nhất của
Jefferson liên quan đến bản Tuyên ngôn Độc lập là việc bị cắt bỏ lời lên án
đanh thép đối với Vua George III vì đã dung túng và thúc đẩy nạn buôn bán nô lệ
ở Bắc Mỹ. Những người khác trong Đại hội Lục địa cũng hiểu rằng có nhiều thế lực
cố gắng duy trì sự bảo trợ cho hoạt động này, và việc lên án một cách gay gắt về
nó sẽ dẫn đến làn sóng đòi bãi bỏ chế độ nô lệ khi đã giành được độc lập. Trên
lý thuyết, Jefferson có thể ủng hộ điều này; nhưng một lần nữa, những nhu cầu về tài chính và thực tế chính
trị phũ phàng đã can thiệp để dập tắt tư tưởng giải phóng nô lệ, ngay cả trong
bối cảnh bản Tuyên ngôn cao cả này về các quyền bất khả xâm phạm của con người,
về quyền sống, tự do và mưu cầu hạnh phúc.
Văn kiện không còn nguyên vẹn như bản
thảo ban đầu, nhưng về bản chất, nó vẫn là tác phẩm của riêng Jefferson. Vào
ngày 4 tháng 7 năm 1776, Chủ tịch Đại hội Lục địa John Hancock đã ký tên vào bản
Tuyên ngôn Độc lập, chính thức hoàn tất việc phê duyệt và ban hành văn bản. Bốn
ngày sau, vào ngày 8 tháng 7, văn kiện đã được tuyên đọc công khai lần đầu tiên
trước toàn thể công chúng tại Philadelphia, do Đại tá dân binh John Nixon thực
hiện dưới sự chủ trì của Cảnh sát trưởng địa phương. Cuối cùng, bản Tuyên ngôn
được in khổ to bằng da bạt và được 56 đại biểu thuộc 13 bang mới, bao gồm cả
Jefferson, chính thức đặt bút ký xác chuẩn vào ngày 2 tháng 8 năm 1776, từ đây
họ gắn kết vận mệnh vào một lời thề chung vì nền tự do của dân tộc.
Trong bản sửa đổi, Tuyên ngôn Độc lập
chủ yếu được tiếp nhận như một bản cáo trạng đanh thép liệt kê các tội trạng chống
lại Vua George III. Và theo bức thư Jefferson gửi cho Richard Henry Lee năm
1825, ông đã thừa nhận rằng ông không cố gắng viết ra những ý tưởng hoàn toàn mới
lạ chưa ai từng nghĩ tới, mà mục đích là để bày tỏ “tâm lý chung của người Mỹ” (the
American mind). Jefferson đã chắt lọc và kết tinh các lập luận của mình
từ nhiều nguồn tư tưởng Khai sáng khác nhau, tiêu biểu là triết học của John
Locke và bản Tuyên ngôn Quyền lợi Virginia của George Mason. Mặc dù mang ý nghĩa biểu tượng to lớn, khi
đó bản Tuyên ngôn chưa hề được chào đón với sự kính cẩn và tôn sùng như một
thánh tích của quốc gia giống như ngày nay. Cho đến những năm cuối đời của
Jefferson, văn kiện ấy đã bắt đầu khoác lên mình một ý nghĩa huyền thoại trường
tồn theo năm tháng, điều mà Jefferson đã nhận thức được rõ và vô cùng tự hào
đón nhận.
Sau bản Tuyên ngôn Độc lập, Đại hội Lục
địa vẫn còn rất nhiều công việc quan trọng phải hoàn thành. Jefferson ở lại
Philadelphia suốt mùa hè năm 1776, tham gia vào những cuộc thảo luận sớm về dự
thảo của Các điều khoản liên Bang
(Articles of Confederation). Tuy nhiên, giữa những sự kiện mang tính lịch sử
ấy, Jefferson luôn nghĩ về trách nhiệm gia đình và nghĩa vụ chính trị mà ông
đang bỏ dở ở quê nhà. Đến tháng 9 năm 1776, khi được miễn nhiệm các nghĩa vụ ở
Philadelphia, ông nhanh chóng trở về điền trang Monticello để đoàn tụ với gia
đình, đồng thời chuẩn bị cho công việc quan trọng tiếp theo là cải cách toàn diện
hệ thống luật pháp và thể chế của bang Virginia.
Ngay trước khi chính thức tham gia
vào Viện Đại biểu Virginia mới được thành lập tháng 10 năm 1776, Chủ tịch Đại hội
Lục địa khi đó là John Hancock đã mời Jefferson đảm nhiệm vị trí ủy viên ngoại
giao tại Triều đình Pháp. Mặc dù có cân nhắc đến vị trí này, Jefferson đành từ
chối do không muốn xa gia đình và tình hình sức khỏe yếu ớt của vợ ông. Sau
này, Jefferson sẽ đến Pháp và có một sự nghiệp ngoại giao rực rỡ. Nhưng vào mùa
thu năm 1776, khi còn rất nhiều việc phải làm trong cuộc cách mạng, chính các
nhiệm vụ đối nội mới là điều quan trọng hàng đầu của ông.
Những cải cách kinh tế, chính trị, xã hội (1776 - 1796)
Người ta nên làm như thế nào khi bắt
đầu xây dựng một chính phủ? Dựa trên các tiền lệ, sử dụng một bộ khung từ trước?
Hay bắt đầu hoàn toàn từ con số không? Đó chính là câu hỏi đặt ra cho Viện Đại
biểu Virginia mới được thành lập vào mùa thu năm 1776, lúc này đóng vai trò là
Hạ viện, thuộc Nghị viện Virginia. Bản thảo hiến pháp trước đó của Jefferson đã
bị bỏ qua vì Đại hội muốn ưu tiên một văn bản mang tính đồng thuận cao hơn. Mặc
dù vậy, Jefferson vẫn được giao phụ trách một ủy ban đặc biệt để rà soát và sửa
đổi toàn bộ luật pháp hiện hành của Virginia, thực hiện việc cắt bỏ những điều
khoản lỗi thời và bổ sung những điều khoản thích hợp. Đáng chú ý, một trong những
cộng sự thân thiết nhất của ông trong công việc này là James Madison, một nhà lập
pháp nhiệm kỳ đầu kém Jefferson 8 tuổi. Đó là khởi đầu của một mối quan hệ
chính trị vĩ đại kéo dài suốt 50 năm.
Jefferson, Madison và các cộng sự đã
đưa ra nhiều đề xuất nhằm tăng sự tự do và công bằng cho người dân Virginia.
Theo luật pháp hiện hành của Anh, quyền bầu cử của một người nam giới phụ thuộc
vào tài sản đất đai mà họ sở hữu, và quyền thừa kế tài sản lại dựa vào thứ tự của
người đó trong gia đình. Do đó, tầng lớp địa chủ thống trị ở Virginia về bản chất
là "hội anh em" của những người con trưởng, nắm giữ đặc quyền kinh tế
và thao túng toàn bộ vũ đài chính trị địa phương.
Jefferson đã trực tiếp tấn công vào hệ
thống cũ bằng cách thúc đẩy bãi bỏ luật
ưu trưởng (primogeniture) và luật hạn
chế chuyển nhượng đất đai (entail) - hai đặc quyền pháp lý lâu đời quy định
điền sản bắt buộc phải được thừa kế nguyên vẹn cho người con trai trưởng. Hệ thống
mới do ông đề xuất khuyến khích việc phân chia tài sản thừa kế một cách bình đẳng
hơn giữa các con trong gia đình. Vì chỉ những người chủ sở hữu đất mới có quyền
bầu cử, sự gia tăng số lượng chủ đất sẽ làm tăng số cử tri đủ điều kiện tham
gia vào đời sống chính trị. Hơn nữa, bằng cách đơn giản hóa thủ tục và giảm bớt
tính cực đoan trong quy trình nhập tịch, các gia đình mới đã ồ ạt chuyển đến và
bắt đầu định cư dọc theo vùng biên giới. Cuối cùng, Jefferson lý giải rằng, những
biện pháp này sẽ làm suy yếu tận gốc tầm ảnh hưởng chính trị của tầng lớp đại địa
chủ bảo thủ lâu đời.
Trong những cải cách ban đầu này, lòng tận tụy của Jefferson đối với nền dân
chủ đã được thể hiện rõ ràng. Ông tin tưởng vào giá trị của tài năng hơn là
đặc quyền của thế lực hay mối quan hệ, ông mong muốn một xã hội được xây dựng
trên nền tảng trọng dụng nhân tài (meritocracy) thay vì chế độ quý tộc
(aristocracy). Để đạt được trọn vẹn giấc mơ về một xã hội trọng dụng nhân tài,
Jefferson nhận ra sự cần thiết phải cải tổ toàn diện hệ thống giáo dục. Mang những
tư tưởng đi trước thời đại, ông tin rằng nhiệm vụ giáo dục nên được chính quyền
đảm nhận, nhằm đào tạo tốt nhất những bộ óc tài năng từ mọi tầng lớp xã hội.
Quan điểm của Jefferson về một hệ thống
giáo dục công lập, mặc dù chưa dành cho trẻ em nô lệ da màu, là điều chưa từng
có tiền lệ và quá tiến bộ so với thời đại. Ông đã cụ thể hóa điều này qua Dự luật Khái quát hóa Tri thức năm 1779
(Bill for the More General Diffusion of Knowledge), đề xuất thành lập các
trường tiểu học công lập miễn phí 3 năm đầu cho mọi trẻ em da trắng. Tuy nhiên,
do những rào cản về ngân sách và sự hoài nghi của giới nghị sĩ bảo thủ, kế hoạch
này đã không thể vượt qua nghị trường để trở thành luật. Mặc dù vậy, cốt lõi tư
tưởng giáo dục của Jefferson vẫn vẹn nguyên giá trị theo thời gian; nó không chỉ
định hình các chính sách học đường của thế hệ sau mà còn đặt nền móng cho thành
tựu tâm huyết nhất trong những năm cuối đời của ông, đó là sáng lập Đại học
Virginia.
Đúng với các giá trị Khai sáng của
mình, Jefferson coi trọng logic và lý
trí của giáo dục hơn những truyền thống lâu đời của giáo hội. Theo đó, ông
muốn tách biệt những kiến thức của trường học và nhà nước khỏi những ràng buộc
tôn giáo, nhưng điều này không hề dễ dàng. Từ trước khi thành lập bang, thuộc địa
Virginia và Giáo hội Anh giáo đã có mối liên kết khó tách rời, Giáo hội Anh
giáo tổ chức thu thuế từ người dân và nắm giữ quyền kiểm soát đáng kể trong
chính quyền. Thêm vào đó, nhiều người lo ngại việc tách rời Nhà nước với tôn
giáo sẽ làm suy yếu niềm tin tôn giáo trong khi bộ máy chính quyền được củng cố
lại có quá nhiều quyền lực.
Bản thân Jefferson được nuôi dạy như
một tín đồ Anh giáo, nhưng ông muốn hạn chế quyền lực quá lớn của thiết chế này
vì quyền tự do tín ngưỡng cho toàn thể công dân. Tư tưởng bao dung ấy sau này
đã được ông đúc kết một cách sâu sắc trong tác phẩm Notes on the State of Virginia
(Ghi chép về bang Virginia), trong tác phẩm này ông đã có một câu nói nổi
tiếng: "Việc người hàng xóm của tôi
nói rằng có 20 vị thần hay không có vị thần nào chẳng gây tổn hại gì cho tôi.
Điều đó chẳng móc tiền túi của tôi mà cũng không làm gãy chân tôi".
Góc nhìn tiến bộ này không chỉ thể hiện quan điểm nhất quán của Jefferson đối với
tự do tôn giáo, mà còn minh chứng cho phương châm cởi mở, tôn trọng lý trí cá
nhân của chính ông đối với các vấn đề tâm linh.
Trong hiểu biết của mình về cuộc đời
và tác phẩm của Chúa Jesus, Jefferson coi Chúa Jesus như một nhân vật đạo đức
hơn là một hình mẫu sùng bái đơn thuần. Quan điểm này đã đặt Jefferson ra ngoài
dòng chảy chính thống của Cơ đốc giáo, đồng thời gắn ông chặt chẽ hơn với truyền
thống Nhất thể luận (Unitarianism) ở New England, Nhất thể luận sau này đã sản
sinh ra những nhà tư tưởng tự do về tôn giáo như Ralph Waldo Emerson và Henry
David Thoreau. Chính góc nhìn khác biệt này sau đó đã bị các đối thủ chính trị
lợi dụng để gièm pha về đức tin của ông, họ hạ nhục và mô tả ông như một kẻ vô
đạo, vô thần trong chiến dịch tranh cử tổng thống năm 1800. Như thường lệ trong
những lúc xảy ra bê bối, Jefferson chọn cách đứng ngoài cuộc tranh cãi đó, từ
chối đưa ra lời hồi đáp đối với những lời cáo buộc như vậy.
Trong tôn giáo cũng như chính trị,
quan điểm của Jefferson là những người độc lập phải có quyền được tự do quyết định.
Do vậy, sự tách biệt giữa nhà nước và giáo hội là một yêu cầu cần được ưu tiên
hàng đầu. Dần dần, quan điểm này của Jefferson trở thành xu hướng tất yếu và
các lợi ích của chính quyền dần được đặt lên trên các đặc quyền của giáo hội.
Bước tiến lớn đầu tiên xảy ra vào năm 1779, toàn bộ giáo sĩ Anh giáo bị chính
phủ xóa tên khỏi danh sách nhận lương. Mặc dù lúc này Giáo hội vẫn giữ những
quyền lực đáng kể, vết rạn nứt đầu tiên đã được tạo ra. Sau đó vào ngày 16
tháng 1 năm 1786, Đạo luật Tự do Tôn
giáo Virginia của Jefferson đã chính thức được Nghị viện Virginia thông qua
sau một thập kỷ giằng co quyết liệt giữa giới chức Anh giáo bảo thủ và liên
minh các giáo phái ly khai. Kể từ thời
điểm này, mọi liên hệ chính thức giữa giáo hội và nhà nước đã hoàn toàn bị cắt
đứt. Hơn nữa, các quyền tự do dân sự
đã được bảo đảm cho tất cả công dân, bất kể họ có niềm tin tôn giáo hay không.
Cho đến nay, nỗ lực thúc đẩy tiến
trình thế tục hóa vẫn là một trong những
di sản quan trọng nhất của Jefferson. Với tư cách là một sứ đồ của Phong
trào Khai sáng, ông đã thành công trong việc thiết lập một bộ khung đạo đức -
chính trị tiến bộ, thay thế cho bộ khung đạo đức - tôn giáo lỗi thời từng tồn tại
trước đó, và điều này xảy ra ngay tại vùng đất được coi là có sự gắn bó với tôn
giáo sâu sắc hơn cả các quốc gia châu Âu. Sau này trên cương vị Tổng thống,
Jefferson đã tiếp tục hành động vì quan điểm này khi kiên quyết đấu tranh nhằm
giảm bớt ảnh hưởng chính trị của giới giáo sĩ bảo thủ ở New England. Dù những
biện pháp ở cấp độ liên bang này gặp nhiều thách thức và kém hiệu quả hơn,
nhưng bằng cách hiện thực hóa một mô hình thế tục tại Virginia, Jefferson đã đóng góp rất lớn vào việc đặt
nền móng cho một xã hội đa nguyên về mặt tôn giáo.
Bên cạnh các cải cách tôn giáo,
Jefferson còn tiến hành hiện đại hóa hệ
thống tư pháp và bộ luật hình sự hà khắc vốn tồn tại từ thời thuộc địa Anh.
Luật hình sự cũ của Anh quy định hình phạt tử hình bằng cách treo cổ cho hơn
200 tội danh khác nhau, kể cả trộm cắp vặt. Jefferson đã giảm số tội bị tử hình
xuống chỉ còn 2 tội danh là mưu sát và phản quốc. Mặc dù mang tư tưởng tiến bộ
khi cố gắng cắt giảm tối đa các án tử hình, dự thảo mang tên “Dự
luật Tỷ lệ hóa Tội phạm và Hình phạt” (Bill for Proportioning Crimes and
Punishments) của Jefferson vẫn phải gánh chịu nhiều chỉ trích vì một số
điều khoản quá tàn nhẫn. Đáng chú ý nhất trong đó là việc áp dụng nguyên tắc trả
miếng cổ xưa (Lex Talionis) (mắt đền mắt, răng đền răng): hình phạt thiến hoạn
đối với tội hiếp dâm, hay gây thương tích tương đương đối với tội cố ý làm biến
dạng cơ thể người khác. Do vấp phải sự phản đối, các biện pháp trừng phạt thể
xác này đã bị loại bỏ; thay vào đó, năm 1796 Nghị viện Virginia đã chính thức
thông qua bộ luật sửa đổi, thay thế bằng hình thức kết án lao động khổ sai và
giam giữ tại nhà giam. Bản thân Jefferson cũng chưa bao giờ xếp công việc sửa đổi
luật hình sự đầy tranh cãi này vào danh sách những thành tựu vĩ đại nhất của cuộc
đời mình.
Trên các khía cạnh giáo dục, pháp lý
và tôn giáo, những tư tưởng của Jefferson đã đi trước thời đại và vô cùng táo bạo.
Tuy nhiên, đối với vấn đề nô lệ, cuộc đời Jefferson lại chứa đựng những hạn chế
đầy mâu thuẫn, ông nhất quán trong quan
điểm cần phải bãi bỏ chế độ nô lệ, nhưng bất lực trước những cố gắng thay đổi
không thành. Cuối cùng, ông cảm thấy mệt mỏi với vấn đề này và lựa chọn
buông xuôi, một sự thỏa hiệp cay đắng xuất phát từ lợi ích kinh tế cá nhân và định
kiến chủng tộc nặng nề của thời đại. Với
tư cách là một đại chủ nô, phần lớn tài sản và địa vị thượng lưu của ông tại
Monticello đều dựa vào chính chế độ bóc lột nô lệ này.
Jefferson được tôn vinh vì những cải
cách dân chủ vĩ đại của mình, nhưng hậu thế vẫn luôn nghiêm khắc nhìn nhận vết
nhơ lớn nhất cuộc đời ông trong vấn đề nô lệ. Thêm nữa, ông có thể mạnh mẽ tước
bỏ đặc quyền của giai cấp quý tộc lâu đời, nhưng các chính sách của ông lại
chưa thể cải thiện một cách đáng kể đời sống của tầng lớp dân nghèo. Đây cũng
là một di sản mà nước Mỹ tiếp tục phải gánh chịu cho đến ngày nay. Như nhà sử học
Henry Adams từng đưa ra nhận định vô cùng sắc sảo: "Những cải cách của Jefferson đã làm suy yếu và nghèo hóa tầng lớp
quý tộc, nhưng chúng chẳng giúp gì mấy cho người dân thường, và đối với những
người nô lệ thì hoàn toàn là con số không".
Bất chấp những hạn chế, thành tựu mà
Jefferson đã đóng góp với tư cách một nghị sĩ bang Virginia là vô song vào thời
đại của ông. Những bản dự thảo hiến pháp và cải cách tư pháp do ông soạn thảo
trở thành nguồn cảm hứng và hình mẫu cho các bang khác noi theo. Nhiều chính
sách tiến bộ cấp tiểu bang của ông sau này đã được nghiên cứu và áp dụng ở cấp
liên bang. Những thay đổi to lớn về kinh tế, chính trị và xã hội mà Jefferson tạo
ra bằng sức mạnh của ngòi bút đã khiến nhiều nhà nghiên cứu gọi thành tựu của
ông là cuộc “cách mạng lập pháp” toàn
diện, chứng minh rằng một xã hội bất công hoàn toàn có thể bị đập tan không phải
bằng vũ lực, mà bằng chính lý trí và luật pháp.
Nhưng khi cuộc “cách mạng lập pháp” này có thể được tiến hành trong sự an toàn của
Nghị viện Virginia, thì chiến tranh với người Anh vẫn tiếp tục diễn ra ở phía bắc.
Và mặc dù ông tuyên bố không quan tâm đến các hoạt động quân sự, sự am hiểu luật
pháp và năng khiếu lãnh đạo của Jefferson đã dần dần kéo ông vào cuộc xung đột
đẫm máu mà chính những lời lẽ hùng hồn của ông trong bản Tuyên ngôn đã góp phần
tạo nên.
Những năm tháng Chiến tranh cách mạng (1776 - 1781)
Một trong những lý tưởng cốt lõi của
phong trào Khai sáng được Jefferson áp dụng là thiết lập sự cân bằng quyền lực
trong cấu trúc chính phủ. Dù nguyên tắc “tam quyền phân lập” giữa ba nhánh lập
pháp, hành pháp và tư pháp đã được quy định rõ trong Hiến pháp Virginia năm
1776, nhưng thiết chế này lại vô tình đẩy nhánh hành pháp (Thống đốc) vào thế yếu
khi tập trung quyền lực tối cao cho lập pháp (Nghị viện). Mặc dù Jefferson
thích làm việc ở vị trí lập pháp hơn, uy tín chính trị ngày một lớn đã đưa ông
vào vai trò hành pháp. Nhờ những dấu ấn đậm nét tại Nghị viện Virginia,
Jefferson đã chuyển mình từ một nhà lập pháp trở thành người đứng đầu nhánh
hành pháp khi các đồng nghiệp tại hai viện bỏ phiếu bầu ông vào chức vụ Thống đốc
bang Virginia vào ngày 1 tháng 6 năm 1779.
Dù không phải là người trực tiếp thiết
kế nên cơ cấu tổng thể này, Jefferson đã phải gánh chịu toàn bộ sức nặng từ một
hệ thống hành pháp bị tước bỏ phần lớn quyền hạn khi lên nắm quyền. Bản Hiến
pháp Virginia năm 1776 do phe ôn hòa thông qua trước đó đã trói buộc chiếc ghế
Thống đốc nhằm ngăn chặn nguy cơ lạm quyền kiểu quân chủ thực dân. Thượng tôn
luật pháp một cách tuyệt đối, Jefferson vô tình rơi vào thế tự cô lập trong
chính cơ chế quản lý mà các đồng nghiệp đã tạo ra. Những hạn chế ngặt nghèo về
mặt hiến pháp ấy ngày càng trở nên ức chế và ngột ngạt khi ông phải trực tiếp đối
mặt với một cuộc chiến tranh quân sự toàn diện và gay go ngay trước mắt.
Những năm đầu của cuộc chiến diễn ra
bất lợi cho quân dân Bắc Mỹ khi quân đội Anh áp đảo về mặt quân số và kỷ luật.
Giữa thế ngặt nghèo, cuộc vượt sông Delaware tài tình của George Washington vào
đêm Giáng sinh năm 1776 đã kịp thời xốc lại tinh thần cho toàn bộ cuộc cách mạng.
Sự kiện người Pháp chính thức tham chiến vào năm 1778 để hỗ trợ người Mỹ cũng
mang lại nguồn tiếp sức quân sự và tài chính vô cùng cần thiết. Và mặc dù Đại
quân Lục địa - đóng quân ở Valley Forge, Pennsylvania - đã phải trải qua mùa
đông khắc nghiệt năm 1777 - 1778, tuy quân số có phần bị hao tổn nhưng lại được
tôi luyện để trở nên tinh nhuệ, kỷ luật và mạnh mẽ hơn. Dẫu thế, áp lực đè nặng
lên vai Washington vẫn là cực kỳ lớn. Ông đã liên tục gửi thư yêu cầu các thuộc
địa phía Nam, đặc biệt là Virginia, phải nhanh chóng huy động tối đa lực lượng
dân binh dự bị cùng nhu yếu phẩm để chi viện cho mặt trận miền Bắc.
Hầu hết các cuộc giao tranh ban đầu
diễn ra ở Canada, New England và New York. Khi Jefferson đảm nhận chức vụ Thống
đốc vào năm 1779, chiến tranh hầu như vẫn chưa kéo đến Virginia. Dù vậy, ông vẫn
gặp rất nhiều khó khăn khi công việc tuyển quân và công tác hậu cần phục vụ cuộc
chiến vắt kiệt nguồn lực của bang. Quân số của Virginia lúc này đã bị phân tán
và suy giảm đáng kể sau chiến dịch viễn chinh tại vùng Tây Bắc (vùng đất
Illinois) của tướng George Rogers Clark - cuộc tấn công do Thống đốc tiền nhiệm
Patrick Henry phê chuẩn nhằm chiếm giữ các đồn bốt chiến lược mà vương quyền
Anh đã tuyên bố chủ quyền theo Đạo luật Quebec.
Dưới nhiệm kỳ Thống đốc của
Jefferson, những nỗ lực củng cố vùng biên viễn phía Tây đã được đẩy mạnh rõ rệt.
Trên cương vị Tổng tư lệnh lực lượng vũ trang bang, Jefferson đã tận dụng thẩm
quyền thời chiến để phê duyệt một chiến dịch quân sự do tướng George Rogers
Clark chỉ huy nhằm củng cố địa bàn và bảo vệ vững chắc vùng lãnh thổ tranh chấp
phía Tây Bắc. Để vượt qua rào cản ngặt nghèo về ngân sách từ những thành viên bảo
thủ của Nghị viện, Jefferson đã đưa ra một cơ chế tài chính táo bạo: thay vì cấp
tiền mặt, ông ban hành các chứng thư cấp đất (Land Warrants) vùng biên viễn làm
phần thưởng chiêu mộ binh sĩ. Nhờ đòn bẩy kinh tế này, vào mùa xuân năm 1780,
tướng Clark đã huy động được một lực lượng dân binh tinh nhuệ gồm những người
khai hoang dũng cảm từ hạt Kentucky và vùng Piedmont để tiến về phía Tây, xây dựng
pháo đài Fort Jefferson ở ngã ba sông Mississippi và Ohio, đồng thời đập tan
các cuộc tấn công của người Shawnee. Cũng trong năm 1780, bước ngoặt lịch sử diễn
ra thông qua một quyết định nhượng địa mang tính chiến lược, khi Jefferson cùng
giới tinh hoa Virginia đồng ý cam kết sẽ trao lại quyền kiểm soát vùng đất rộng
lớn mới chiếm được này cho chính phủ liên bang nhằm củng cố khối đại đoàn kết.
Chính từ những dải đất bao la được chuyển giao ngày ấy, 5 tiểu bang trù phú
ngày nay bao gồm Ohio, Indiana, Illinois, Michigan và Wisconsin đã lần lượt được
khai sinh và định hình.
Năm 1779, Virginia đã phải chịu một tổn
thất nặng nề khi hải quân Anh phong tỏa thành công Vịnh Chesapeake, gây ảnh hưởng
nghiêm trọng đến các hoạt động thương mại và về cơ bản làm tê liệt nền kinh tế
của bang. Trong nỗ lực cứu vãn nguồn tài chính đang cạn kiệt, Thống đôc
Jefferson đã thúc đẩy triển khai chiến dịch tịch thu tài sản của những người
trung thành với hoàng gia Anh (Loyalist), thu hồi đất đai và điền sản của tất
những ai bị nghi ngờ duy trì liên minh hoặc bảo vệ các lợi ích của chính quốc.
Quy định cứng rắn này không chỉ nhằm mục đích trừng phạt phe đối lập mà còn trở
thành công cụ tài chính tối quan trọng để tạo quỹ phục vụ cho lực lượng dân
quân địa phương.
Để đối phó với nguy cơ bị tấn công trực
diện từ vùng bờ biển, Jefferson đã thực hiện một kế hoạch có tính chiến lược
lâu dài, đó là dời thủ phủ bang từ
Williamsburg vào sâu trong đất liền, tới vùng Richmond, nơi vẫn là trung
tâm quyền lực của Virginia cho đến tận ngày nay. Kế hoạch di dời thủ phủ này đã
được Jefferson nung nấu và đề xuất từ năm 1776. Mục đích ban đầu hoàn toàn mang
tính dân chủ: ông muốn đưa thủ phủ về vùng đất trung tâm của bang để mọi người
dân dễ tiếp cận các hoạt động chính trị hơn, thay vì để nó nằm ở Williamsburg
thuộc vùng duyên hải, nơi sinh sống chủ yếu của giới quý tộc giàu có. Khi cuộc
chiến bùng nổ vào năm 1779 - 1780, mối đe dọa từ pháo hạm Anh đã trở thành cái
cớ quân sự cấp bách để ông ép Nghị viện thông qua kế hoạch này. Mặc dù kế hoạch
này được đẩy nhanh nhằm mục đích cấp bách, đó là làm suy yếu lợi thế chiến thuật
của hải quân Anh, nhưng về lâu dài, nó đã làm thay đổi vĩnh viễn cán cân quyền lực ở Virginia. Sự ảnh hưởng chính
trị từ tầng lớp quý tộc vùng Tidewater dần chuyển sang những người dân vùng
biên giới Piedmont, rất phù hợp với quan điểm dân chủ trong con đường chính trị
của Jefferson.
Vào cuối năm 1779, quân đội Anh bắt đầu
chuyển trọng tâm chiến lược sang phía Nam. Đến tháng 5 năm 1780, hải quân và bộ
binh Anh đã siết chặt vòng vây, ép thành phố cảng chiến lược Charleston ở Nam
Carolina đầu hàng vô điều kiện. Thất bại nặng nề này đã khiến cánh quân phía
Nam của Lục quân Lục địa rơi vào tình trạng hỗn loạn và tan rã, đồng thời sự ủng
hộ dành cho phe Bảo hoàng gia tăng mạnh mẽ. Nhận thấy lợi thế đang hoàn toàn
nghiêng về phía mình, quân đội Hoàng gia Anh tiếp tục tiến quân về phía Bắc qua
Georgia và 2 bang Carolinas (Bắc Carolina và Nam Carolina), đẩy toàn bộ chiến
trường miền Nam vào một cuộc nội chiến khốc liệt.
Trước bối cảnh nguy cơ dồn dập ấy,
Jefferson đã tái đắc cử chức vụ Thống đốc nhiệm kỳ thứ hai vào mùa xuân năm
1780. Nhằm cải thiện tối đa khả năng phòng thủ của Virginia, ông đã kêu gọi
thành lập một lực lượng quân đội thường trực tự trị riêng cho bang. Tuy nhiên,
do những hạn chế ngặt nghèo trong quyền hành pháp vốn có, đề xuất này của ông
đã bị Nghị viện thẳng thừng bác bỏ vì họ lo sợ đây sẽ là bước đệm dẫn đến sự tập
trung quyền lực quá mức vào tay Thống đốc. Một lần nữa, Jefferson rơi vào thế kẹt
bởi chính lý tưởng của mình: sự tôn trọng tuyệt đối dành cho các nguyên tắc dân
chủ và hiến pháp đã ngăn ông thực hiện các biện pháp vượt quyền, ngay cả khi
vương quốc Anh đang áp sát cửa ngõ.
Do sự ràng buộc ngặt nghèo từ cơ chế
phân quyền của hiến pháp cũ, khi quân đội Anh do kẻ phản bội Benedict Arnold chỉ
huy bất ngờ tấn công Virginia vào tháng 1 năm 1781, Thống đốc Jefferson cùng
chính quyền bang rơi vào tình thế hoàn toàn bất lực trong việc tự vệ. Những chiến
binh tinh nhuệ và dày dặn kinh nghiệm nhất của bang đã được điều động ra mặt trận
phương Bắc theo lời kêu gọi của Washington hoặc theo chân tướng Clark sang miền
viễn Tây. Chỉ còn lại lực lượng dân binh thiếu tổ chức, thiếu vũ khí và kinh
nghiệm ở lại bảo vệ quê nhà. Hệ quả tất yếu là quân Anh đã tràn vào thủ phủ
Richmond mà không gặp phải bất kỳ sự kháng cự đáng kể nào; thành phố mới lập
này nhanh chóng bị cướp phá và phóng hỏa thiêu rụi, ngay trước khi Jefferson
cùng gia đình kịp thời di tản khẩn cấp trong đêm.
Khi tâm điểm của cuộc chiến dịch chuyển
sang các bang phía Nam, phe cách mạng Mỹ cũng nhanh chóng điều chỉnh theo tình
thế mới. Washington đã điều động một lực lượng viện binh tinh nhuệ Pháp do Hầu
tước de Lafayette chỉ huy đến trợ giúp phòng thủ Virginia. Giữa khói lửa chiến
tranh, Jefferson và Lafayette đã nhanh chóng thiết lập một tình bạn tri kỷ kéo
dài suốt cuộc đời họ. Nhưng dù Jefferson luôn tìm thấy sự đồng điệu khi làm việc
bên cạnh các nhân vật tài năng, bản thân ông tự nhận thức rõ ràng rằng thể trạng
và thiên hướng của mình không phù hợp để đương đầu với các áp lực quân sự thời
chiến. Vì vậy, khi nhiệm kỳ Thống đốc thứ hai của mình chính thức hết hạn vào
ngày 2 tháng 6 năm 1781, Jefferson đã dứt khoát từ chối việc tái ứng cử nhiệm kỳ
tiếp theo, nhằm dọn đường cho Nghị viện Virginia bầu Tướng Thomas Nelson Jr. -
một chỉ huy quân sự thực thụ - lên nắm quyền điều hành bang vượt qua cơn bão
táp.
Chỉ vài ngày sau đó, một bi kịch quân
sự diễn ra đẩy Jefferson vào nỗi oan khiên và vết sẹo tâm lý lớn nhất cuộc đời
ông khi mốc thời gian bước sang tháng 6 năm 1781. Ngày 4 tháng 6 năm 1781, kỵ
binh Anh dưới sự chỉ huy của Banastre Tarleton bất ngờ đột kích vào tận điền
trang Monticello, nhiệm kỳ Thống đốc của Jefferson thực chất đã kết thúc vào
ngày 2 tháng 6. Với tư cách là một công dân bình thường không còn quyền hạn
binh lực, việc ông vội vã đưa gia đình di tản vào rừng sâu chỉ vài phút trước
khi quân Anh ập vào là một quyết định bảo toàn tính mạng hoàn toàn sáng suốt.
Tuy nhiên, các đối thủ chính trị trong Nghị viện đã bám vịn vào sự kiện này để
mở một cuộc điều tra chính thức, cay đắng cáo buộc ông hèn nhát và nhu nhược. Mặc
dù Nghị viện Virginia đã ban sắc lệnh minh oan hoàn toàn cho ông vào cuối năm
1781, lời bôi nhọ kinh điển mang biệt danh “Kẻ hèn nhát núi Carter” (The Coward of
Carter’s Mountain) vẫn bị phe đối địch sử dụng suốt nhiều thập kỷ sau
đó, gây nên nỗi uất ức thầm lặng bám theo vị kiến trúc sư của nền độc lập cho đến
tận cuối đời.
Vận mệnh của người Mỹ đã có bước chuyển
biến ngoạn mục vào cuối mùa hè và đầu mùa thu năm 1781. Lực lượng hải quân Pháp
đã khóa chặt vùng biển Virginia, kết hợp cùng cuộc tấn công hiệp đồng thắt chặt
vòng vây trên bộ của liên quân Mỹ - Pháp nhắm vào quân đội Anh đang đóng đồn tại
đó. Nhanh chóng ngoài mong đợi, Tướng Lord Cornwallis đã bị khuất phục hoàn
toàn trước cuộc tấn công dồn dập, quân Anh đầu hàng tại Yorktown vào ngày 19
tháng 10 năm 1781. Nước Mỹ, với sự trợ giúp từ nhiều đồng minh châu Âu, đã khẳng
định được nền độc lập thực sự của mình, đánh lùi đế quốc hùng mạnh nhất thế kỷ
18.
Thật không may, Jefferson lại không
thể hưởng trọn vẹn niềm vinh quang chiến thắng này của dân tộc do phải gánh chịu
sức ép từ những cáo buộc hèn nhát nói trên. Dù sau đó ít lâu, cuối năm 1781 Nghị
viện Virginia đã ban sắc lệnh minh oan và khôi phục danh dự hoàn toàn cho ông,
nhưng vết hoen ố bất công này đối với sự liêm chính của Jefferson đã để lại nhiều
hệ lụy tâm lý nặng nề. Khi biết cựu Thống đốc Patrick Henry chính là người đứng
đằng sau kích động cuộc điều tra nhằm hạ bệ uy tín của mình, Jefferson đã dứt
khoát cắt đứt mọi mối quan hệ với người đồng nghiệp kiêm đồng minh cũ này. Đau
đớn và thất vọng trước sự bội bạc, ông quyết định rút lui hoàn toàn khỏi chốn
quan trường, quay trở về điền trang Monticello với ý định dành trọn phần đời
còn lại cho gia đình và những nghiên cứu học thuật.
Vì vậy, ở tuổi 38, Jefferson đã lui về
Monticello với ý định rời bỏ đời sống chính trị nhiều bão táp. Dù dinh thự
chính tại Monticello may mắn không bị quân Anh tàn phá cướp bóc, các trang trại
khác của ông trở nên tiêu điều; gia súc và hoa màu bị đốt phá, hủy hoại hoàn
toàn. Nghiệt ngã nhất là tại điền trang Elkhill, quân đội Anh do Cornwallis chỉ
huy đã chiếm đóng, phá hủy tài sản và bắt đi 30 nô lệ. Do đó, trong lúc danh tiếng
bị hoen ố và những tài sản nằm trong đống đổ nát ngổn ngang, Jefferson đã bắt
tay vào việc tái thiết lại sản nghiệp của mình, vốn đã bị bỏ bê sau nhiều năm tận
hiến cho sự nghiệp cách mạng.
Phần tiếp theo: Cuộc đời Thomas Jefferson: Tuyên ngôn Độc lập và những mặt đối lập (Phần 3)

0 comments:
Post a Comment