Nghệ thuật văn chương Murakami

Đây là bài phỏng vấn số 182 trên tạp chí The Paris Review, đã mở ra một lăng kính toàn diện và sâu sắc vào thế giới nghệ thuật độc bản của Haruki Murakami.

Haruki Murakami tại Nhà Văn học Quốc tế Waseda (thư viện Haruki Murakami) ở Tokyo ngày 20/04/2022. Ảnh chụp bởi Azusa Takada

Qua cuộc đối thoại với John Wray, Murakami tự phác họa chân dung bản thân như một “người kể chuyện đương đại” đầy nhạy bén, đi giữa lằn ranh của hiện thực và siêu thực, biết cách vay mượn cấu trúc của âm nhạc, tiểu thuyết trinh thám Mỹ và cả tư duy của những lĩnh vực tưởng chừng không liên quan gì đến văn học. Ông tạo nên một bản hòa tấu giữa kỷ luật, tiềm thức, và những ẩn dụ đương đại; cùng với đó là kế thừa, học hỏi những giá trị mang tầm kinh điển. Xây dựng hệ thống biểu tượng và nhân vật mang bản sắc Nhật Bản dưới lớp vỏ hiện đại.

Bài phỏng vấn là chìa khóa quan trọng giúp độc giả hiểu về văn chương của ông. Murakami thành công không phải nhờ những công thức hay tính toán áp đặt, mà nhờ vào sự khiêm nhường trước nghệ thuật, sự kiên trì đào sâu vào vùng ký ức tập thể và khả năng “thôi miên” người đọc bằng những câu chuyện ngụ ngôn hiện đại đầy mê hoặc. Chúng tôi xin gửi tới bạn đọc bản dịch toàn bộ nội dung bài đăng trên tạp chí The Paris Review, bài phỏng vấn thực hiện mùa hè năm 2004, link gốc ở cuối bài. Sau đây là toàn bộ nội dung.

Haruki Murakami có thể được coi là nhà văn viết thiểu thuyết có tính thử nghiệm nhất Nhật Bản từng được dịch sang tiếng Anh, hơn nữa, ông còn là tác giả nổi tiếng nhất, với lượng sách bán ra hàng triệu bản trên toàn thế giới. Những cuốn tiểu thuyết hay nhất của ông nằm ở ranh giới giữa chủ nghĩa hiện thực và ngụ ngôn, giữa trinh thám và khoa học viễn tưởng, như: nhân vật chính của tác phẩm “Hard-Boiled Wonderland and the End of the Wold (Xứ sở kỳ diệu tàn bạo và chốn tận cùng thế giới)” là một người có hai tâm thức; và “The Wind-Up Bird Chronicle (Biên niên ký chim vặn dây cót)”, có lẽ là tác phẩm nổi tiếng nhất của ông ngoài Nhật Bản, bắt đầu một cách đơn giản - khi một người đàn ông đi tìm người vợ mất tích của mình - rồi lặng lẽ đưa cuốn tiểu thuyết thành cách kể chuyện lai tạp kỳ lạ nhất kể từ sau “Tristram Shandy” của Laurence Sterne (1). Thế giới của Murakami là một thế giới ngụ ngôn, được xây lên từ những biểu tượng quen thuộc - một cái giếng cạn, một thành phố ngầm - nhưng ý nghĩa của những biểu tượng đó, cho đến cuối cùng vẫn là điều bí ẩn. Bất chấp sự ảnh hưởng của văn hóa phương Tây (và đặc biệt và văn hóa Mỹ), chúng ta có thể nói rằng chưa có sự nghiệp của nhà văn nào mang dấu ấn cá nhân hơn là của Murakami.

Murakami sinh năm 1949 ở cố đô Kyoto, Nhật Bản, ông sinh ra trong một gia đình trung lưu tôn trọng sâu sắc các giá trị văn hóa dân tộc: cha ông là giáo viên văn học Nhật Bản, ông nội ông là nhà sư Phật giáo. Gia đình ông chuyển đến Kobe khi ông hai tuổi, và chính thành phố cảng nhộn nhịp này, nơi có nhiều người nước ngoài qua lại, sinh sống (đặc biệt là các thủy thủ Mỹ), đã ảnh hưởng đến sự hình thành bản sắc của ông. Chối bỏ văn học, nghệ thuật và âm nhạc Nhật Bản từ khi còn nhỏ, Murakami ngày càng gắn bó thân thuộc với nền văn hóa bên ngoài Nhật Bản, đó là thế giới mà ông mới chỉ biết đến qua những đĩa nhạc jazz, phim Hollywood và những cuốn sách bìa mềm giá rẻ.

Cuối những năm 1960, khi đang là một sinh viên ở Tokyo, Murakami đã hình thành niềm yêu thích tiểu thuyết hậu hiện đại, thời gian đó ông cũng lặng lẽ chứng kiến phong trào phản kháng đi đến cao trào với lòng cảm thông (2). Ông kết hôn năm 23 tuổi và dành vài năm sau đó để điều hành Peter Cat - một jazz club ở Tokyo, trước khi cuốn tiểu thuyết đầu tay giúp ông có thể kiếm sống bằng nghề viết văn. Đó là cuốn tiểu thuyết “Hear the Wind Sing (Lắng nghe gió hát)”, sách được dịch sang tiếng Anh nhưng ông không cho phát hành bên ngoài Nhật Bản, cuốn sách đã mang về cho ông Giải văn học Gunzo danh giá và những độc giả đầu tiên. Với mỗi tác phẩm tiếp theo, danh tiếng và sự nổi tiếng của ông ngày càng gia tăng. Khi cuốn tiểu thuyết hiện thực đầu tiên của ông, “Norwegian Wood (Rừng Nauy)” được xuất bản năm 1987, ông trở thành một ngôi sao trong nền văn học và là “tiếng nói của thế hệ mình” - là hình ảnh J.D.Salinger của Nhật Bản những năm 1980. Chỉ riêng tại Nhật Bản, cuốn sách đã bán được hơn hai triệu bản, tương đương với mỗi hộ gia đình ở Tokyo có một cuốn tiểu thuyết này.

Kể từ đó, Murakami trở thành một người nổi tiếng ngoài ý muốn ở quê hương mình, ông sống ở cả châu Âu và Mỹ nhiều năm để tạo một khoảng cách nhất định với công chúng. Cuốn “The Wind-Up Bird Chronicle (Biên niên ký chim vặn dây cót)” được viết khi ông đang giảng dạy tại Princeton và Tufts. Mặc dù chưa bao giờ quay lại lối viết trữ tình mộc mạc như tác phẩm “Rừng Nauy”, các tiểu thuyết mới của ông vẫn tiếp tục thu hút được nhiều độc giả hơn. Cuốn tiểu thuyết mới nhất của ông, “Kafka on the Shore (Kafka bên bờ biển)”, đã bán được ba trăm ngàn bản ở Nhật và bản tiếng Anh sẽ ra mắt vào cuối năm nay (2004). Trên phạm vi quốc tế, Murakami hiện là nhà văn Nhật Bản được đọc nhiều nhất trong thế hệ của mình, ông đã giành được hầu hết giải thưởng mà Nhật Bản trao tặng, bao gồm cả giải thưởng danh giá nhất, Giải thưởng văn học Yomiuri. Bên cạnh đó, ông còn là một người hoạt động cực kỳ tích cực trong lĩnh vực dịch thuật, đã đưa nhiều tác phẩm của nhiều nhà văn với các phong cách khác nhau như Raymond Carver, Tim O’Brien, và F. Scott Fitzgerald đến với độc giả Nhật Bản, trong đó có nhiều nhà văn lần đầu tiên được dịch sang thứ tiếng này.

Văn phòng của Murakami nằm ngay gần con phố chính ở Aoyama, khu phố sầm uất với các cửa hiệu thời trang cao cấp, tương tự khu phố SoHo ở New York City. Tòa nhà trông thấp và lỗi thời, như thể nó nằm ngoài sự thay đổi chung của cả khu vực. Murakami thuê một văn phòng vừa phải trên tầng sáu của tòa nhà, nội thất của các phòng cũng mang vẻ giản đơn như đồ văn phòng phổ biến: tủ gỗ giản dị, ghế xoay, bàn làm việc phủ màng Mylar. Cách bài trí dường như không phù hợp với văn phòng làm việc của một nhà văn nổi tiếng, nhưng đồng thời lại phù hợp theo một cách nào đó với các nhân vật của ông - họ thường ở trong khung cảnh đời thường như vậy khi thế giới mộng mơ lần đầu vẫy tay gọi họ. Thực tế, dù chỉ đôi khi ông ngồi viết ở đó, văn phòng là trung tâm điều hành công việc kinh doanh của Murakami. Không khí làm việc lịch sự và chăm chỉ. Không dưới hai trợ lý liên tục làm việc, đi lại thoăn thoắt trong văn phòng trên những đôi chân nhỏ nhắn mang tất.

Trong suốt cuộc phỏng vấn diễn trong hai buổi chiều liên tiếp, ông thể hiện là một người hòa nhã, hay cười, trái ngược với vẻ yên tĩnh của không gian văn phòng. Rõ ràng ông ấy là một người bận rộn và tự nhận mình là người ít nói, nhưng khi bắt đầu câu chuyện nghiêm túc, tôi thấy ông ấy rất tập trung và cởi mở. Ông ấy nói trôi chảy, nhưng có những khoảng dừng dài giữa các câu nói, rất cẩn thận để đưa ra câu trả lời chính xác. Khi câu chuyện chuyển sang chủ đề nhạc jazz hoặc chạy marathon, hai niềm đam mê lớn của ông, người ta dễ nhầm ông với một người đàn ông trẻ hơn hai mươi tuổi, hoặc thậm chí là một cậu bé mới mười lăm tuổi.

John Wray: Tôi mới đọc “After the Quake (Sau cơn động đất)”, tuyển tập truyện ngắn mới nhất của ông và tôi thấy thú vị ở cách ông tự do kết hợp những câu chuyện mang tính hiện thực, như theo phong cách của “Rừng Na Uy”, với những câu chuyện khác có nhiều điểm chung với “Biên niên ký chim vặn dây cót” hay “Xứ sở diệu kỳ tàn bạo và chốn tận cùng thế giới”. Ông có thấy sự khác biệt cơ bản giữa hai thể loại này không?

Murakami: Phong cách của tôi, cái mà tôi gọi là phong cách của mình, rất gần với thể loại trinh thám kinh dị (Xứ sở diệu kỳ tàn bạo). Bản thân tôi không thích phong cách hiện thực. Nhưng với "Rừng Na Uy", tôi đã quyết định viết một cuốn tiểu thuyết hoàn toàn hiện thực. Tôi cần trải nghiệm đó.

John Wray: Ông coi cuốn sách đó như một thử nghiệm về phong cách, hay ông có một câu chuyện cụ thể nào đó muốn kể, và câu chuyện đó nên được kể bằng phong cách hiện thực?

Murakami: Nếu tôi vẫn chỉ viết những tác phẩm siêu thực, có thể tôi vẫn là một nhà văn được yêu mến bởi một nhóm độc giả trung thành yêu thích thể loại đó. Nhưng tôi muốn bước chân vào dòng chảy chính của thế giới văn học, vì vậy tôi phải chứng minh mình có thể viết một cuốn sách hiện thực. Đó là lý do tại sao tôi viết cuốn sách đó. Nó đã trở thành best-seller ở Nhật và tôi đã dự định được kết quả này.

John Wray: Vậy thật ra đó là một lựa chọn được tính toán.

Murakami: Đúng vậy. "Rừng Na Uy" là một cuốn sách rất dễ đọc và dễ hiểu. Nhiều người thích cuốn sách đó. Nhờ vậy, họ có thể quan tâm đến tác phẩm khác của tôi; điều này giúp ích rất nhiều.

John Wray: Vậy độc giả Nhật cũng giống như độc giả Mỹ? Họ thích những câu chuyện dễ hiểu.

Murakami: Cuốn mới nhất của tôi, "Kafka bên bờ biển", bán được 300.000 bộ - như anh biết đấy, ở đây nó được in thành hai tập. Tôi rất bất ngờ vì bán được nhiều đến thế; đó không phải chuyện bình thường. Nội dung của tác phẩm này rất phức tạp và rất khó theo dõi. Nhưng phong cách viết, văn phong của tôi thì rất dễ đọc. Nó có sự hài hước, nó kịch tính, và rất lôi cuốn. Có một sự cân bằng kỳ diệu giữa hai yếu tố đó, có lẽ đó là một lý do khác dẫn đến sự thành công của tôi. Tuy nhiên, điều đó vẫn khó tin. Tôi dành khoảng thời gian ba hoặc bốn năm để viết mỗi cuốn tiểu thuyết và mọi người vẫn chờ đợi. Tôi từng phỏng vấn John Irving, và ông ấy nói với tôi rằng, đọc sách giống như một cơn nghiện. Một khi đã nghiện, họ sẽ luôn đợi chờ.

John Wray: Ông muốn biến độc giả thành những con nghiện?

Murakami: Đó là điều John Irving đã nói.

John Wray: Hai yếu tố đó - giọng kể chuyện giản đơn, dễ hiểu kết hợp với một cốt truyện có phần kỳ bí - có phải là lựa chọn có chủ ý?

Murakami: Không, không phải vậy. Khi bắt đầu viết, tôi hoàn toàn không có kế hoạch gì cả. Tôi chỉ đợi câu chuyện xuất hiện. Tôi không chọn thể loại truyện hay những gì sẽ xảy ra. Tôi chỉ đợi. "Rừng Na Uy" thì khác, vì tôi quyết định viết theo phong cách hiện thực. Nhưng về cơ bản, tôi không thể chọn.

John Wray: Nhưng ông có chọn giọng văn để kể câu chuyện đó không, giọng văn thực tế, dễ hiểu ấy? Ông có chọn nó không?

Murakami: Tôi thu thập một số hình ảnh và kết nối chúng lại với nhau. Đó chính là cốt truyện. Sau đó, tôi diễn giải cốt truyện cho người đọc. Bạn nên thật nghiêm túc khi giải thích điều gì đó. Nếu bạn nghĩ, “Không sao đâu, giải thích thế là ổn rồi”, thì đó là một thái độ rất kiêu căng. Hãy dùng từ ngữ dễ hiểu và những phép ẩn dụ hay, những câu chuyện ngụ ngôn hay. Đó là những gì tôi làm. Tôi giải thích rất cẩn thận và rõ ràng.

John Wray: Ông có được điều đó một cách tự nhiên?

Murakami: Tôi không thông minh. Tôi không kiêu ngạo. Tôi chỉ như những độc giả của mình. Tôi từng có một jazz club, tôi tự pha chế cocktail và làm sandwich. Tôi không muốn trở thành nhà văn - nhưng điều đó cứ thế tự đến. Đó như là một món quà vậy, anh biết đấy, từ thiên đường. Vậy nên tôi nghĩ mình cần phải rất khiêm tốn.

John Wray: Ở tuổi nào ông trở thành nhà văn? Đó có phải là một bất ngờ đối với ông không?

Murakami: Khi tôi 29. Ồ phải, đó là một bất ngờ. Nhưng tôi lập tức thân thuộc với điều ấy.

John Wray: Lập tức? Từ ngày đầu tiên viết văn ông đã có được sự thoải mái đấy sao?

Murakami: Tôi bắt đầu viết trên bàn ăn sau nửa đêm. Tôi mất mười tháng để hoàn thành cuốn sách đầu tiên của mình; tôi gửi nó cho một nhà xuất bản và nhận được một giải thưởng, vì vậy nó giống như một giấc mơ - tôi đã rất ngạc nhiên với điều xảy ra. Nhưng ngay sau đó, tôi nghĩ, Ừ, điều đó đã xảy ra và mình là nhà văn; tại sao không? Đơn giản thế thôi.

John Wray: Vợ ông cảm thấy như thế nào về quyết định trở thành nhà văn của ông?

Murakami: Bà ấy không nói gì cả; khi tôi nói, Anh là nhà văn, bà ấy ngạc nhiên và hơi xấu hổ.

John Wray: Tại sao bà ấy xấu hổ? Có phải bà nghĩ ông sẽ không thành công?

Murakami: Không, cô ấy không nghĩ thế. Chỉ là cô ấy không muốn tôi trở thành một người nổi tiếng. Cô ấy thích một cuộc sống yên bình, thế nên cô ấy cảm thấy rất áp lực, xấu hổ và ngại ngùng khi tôi đột nhiên trở thành một người nổi tiếng. Bất cứ nơi nào chúng tôi đến, mọi người đều nhìn chằm chằm vào chúng tôi. Cô ấy ghét điều đó.

John Wray: Ai là hình mẫu của ông? Nhà văn Nhật nào có ảnh hưởng đến ông?

Murakami: Tôi không đọc nhiều nhà văn Nhật Bản khi còn là một đứa trẻ và ngay cả ở độ tuổi thiếu niên. Tôi muốn trốn chạy khỏi nền văn hóa này; tôi cảm thấy nó thật nhàm chán. Quá ủy mị và ướt át.

John Wray: Chẳng phải cha ông là giáo viên văn học Nhật hay sao?

Murakami: Đó cũng là lý do. Đó là sự xung đột ý thức hệ giữa cha và con. Sự xung đột đó làm tôi cứ thế bước vào nền văn hóa phương Tây: nhạc jazz, Dostoevsky, Kafka và Raymond Chandler. Đó là thế giới của riêng tôi, miền đất tưởng tượng của tôi. Tôi có thể đến St. Petersburg hay West Hollywood nếu muốn. Đó là sức mạnh của tiểu thuyết - bạn có thể đến bất cứ nơi đâu. Giờ đến Mỹ thì dễ thôi - ai cũng có thể đi bất cứ đâu trên thế giới - nhưng trong những năm 1960 thì điều đó gần như là không thể. Vì vậy, tôi chỉ cần đọc sách và nghe nhạc là có thể đến đó. Đó là một trạng thái tinh thần, giống như một giấc mơ.

John Wray: Và đến một lúc nào thì điều đó dẫn đến nghiệp viết văn của ông?

Murakami: À, khi tôi 29 tuổi, đột nhiên tôi chỉ muốn viết một cuốn tiểu thuyết. Tôi cảm giác mình có thể làm được điều đó. Tôi chẳng biết tại sao. Lúc đó tôi đang xem một trận bóng chày, và bỗng nhiên tôi biết mình có thể viết. Tôi chẳng rõ lý do vì sao. Nó giống như một sự giác ngộ vậy.

John Wray: Và đến khi thực sự bắt tay vào viết những tác phẩm đầu tay của mình, ông có nhận thấy phong cách của mình tách biệt hẳn khỏi dòng chảy của các nhà văn Nhật Bản khác không?

Murakami: Đúng vậy. Khi tôi 29 tuổi, tôi bắt đầu viết tiểu thuyết một cách bất ngờ. Tôi muốn viết một cái gì đó, nhưng lại không biết phải làm thế nào. Tôi không biết cách viết bằng văn phong Nhật Bản - tôi gần như chưa từng đọc tác phẩm nào của các nhà văn hiện đại Nhật Bản - vì vậy tôi đã mượn phong cách, cấu trúc, mọi thứ, từ những cuốn sách tôi đã đọc - sách Mỹ hoặc sách phương Tây. Kết quả là, tôi đã tạo ra phong cách riêng của. Đó là một sự khởi đầu.

John Wray: Khi cuốn đầu tiên được xuất bản, ông được trao giải và ít nhiều bắt đầu con đường sự nghiệp của mình. Ông có bắt đầu gặp gỡ các nhà văn khác?

Murakami: Không, hoàn toàn không.

John Wray: Lúc đó ông không có người bạn nào là nhà văn?

Murakami: Không.

John Wray: Qua thời gian ông có gặp ai, trở thành bạn bè hay đồng nghiệp không?

Murakami: Không, hoàn toàn không.

John Wray: Đến bây giờ, ông cũng không có người bạn nào là nhà văn?

Murakami: Không. Tôi nghĩ thế.

John Wray: Ông có cho ai xem tác phẩm của mình trong khi nó đang được hoàn thiện không?

Murakami: Chưa bao giờ.

John Wray: Vợ ông thì sao?

Murakami: Chà, tôi cho bà ấy xem bản thảo đầu của cuốn tiểu thuyết đầu tiên, nhưng bà ấy bảo chưa bao giờ đọc nó! Chắc bà ấy không có ấn tượng gì cả, tôi đoán thế.

John Wray: Bà ấy không ấn tượng?

Murakami: Đúng. Nhưng đấy là bản thảo đầu và nó rất tệ. Tôi đã viết đi viết lại.

John Wray: Giờ khi ông viết sách có bao giờ bà ấy tò mò ông đang viết gì không?

Murakami: Bà ấy là độc giả đầu tiên, lần nào tôi viết sách cũng thế. Tôi dựa vào bà ấy. Bà ấy như một cộng sự với tôi. Giống Scott Fitzgerald - với ông ấy, Zelda là độc giả đầu tiên.

John Wray: Vậy chưa bao giờ, ở bất cứ thời điểm nào trong sự nghiệp, ông có cảm giác mình là một phần của bất cứ cộng đồng nhà văn nào?

Murakami: Tôi là một kẻ cô độc. Tôi không thích các hội nhóm, trường phái hay các văn đàn. Khi ở Princeton, có một quán ăn trưa kiểu như vậy và tôi được mời đến ăn ở đó. Joyce Carol Oates ở đó, cả Toni Morrison cũng ở đó, và tôi đã sợ đến mức chẳng thể nuốt nổi bất cứ thứ gì! Mary Morris cũng ở đó và cô ấy là một người rất tốt, bằng tuổi tôi, và có thể nói chúng tôi đã trở thành bạn bè. Nhưng ở Nhật Bản, tôi không có bất kỳ người bạn nào là nhà văn cả, bởi vì tôi chỉ muốn giữ... khoảng cách.

John Wray: Ông đã viết một phần lớn của "Biên niên ký chim vặn dây cót" ở Mỹ. Việc sống ở đó có tác động rõ rệt nào lên quá trình sáng tác hay lên chính văn bản của tác phẩm không?

Murakami: Trong suốt bốn năm viết "Biên niên ký chim vặn dây cót", tôi đã sống ở Mỹ như một kẻ xa lạ. Sự 'xa lạ' ấy luôn bám theo tôi như một cái bóng, và nó cũng vận vào đúng nhân vật chính của cuốn tiểu thuyết. Nghĩ lại thì, nếu tôi viết cuốn sách này ở Nhật Bản, nó có lẽ đã trở thành một tác phẩm rất khác.

Cảm giác xa lạ của tôi khi sống ở Mỹ khác với sự lạc lõng mà tôi cảm thấy khi ở Nhật. Tại Mỹ, nó hiển hiện rõ ràng và trực diện hơn, và điều đó giúp tôi nhận thức về bản thân một cách sáng tỏ hơn nhiều. Quá trình viết cuốn tiểu thuyết này, theo một cách nào đó, cũng tương tự như quá trình tôi tự lột trần chính mình vậy.

John Wray: Trong số các nhà văn đương thời Nhật Bản, có ai mà ông thường đọc và đánh giá cao tác phẩm của họ không?

Murakami: Tôi có đọc một vài người. Ryū Murakami. Banana Yoshimoto - tôi thích một số cuốn của cô ấy. Nhưng để nhận xét sâu hơn thì hơi khó. Tôi không muốn đưa ra các phán xét về những nhà văn cùng thời với mình.

John Wray: Tại sao?

Murakami: Tôi nghĩ công việc của mình là quan sát con người và thế giới, chứ không phải đánh giá họ. Tôi luôn hy vọng bản thân mình có thể tránh xa những kết luận mang tính áp đặt. Tôi muốn mọi thứ đều rộng mở, để mọi khả năng trong cuộc đời này đều có thể xảy ra.

Tôi thích dịch thuật hơn phê bình, bởi lẽ khi dịch, người ta không bị áp lực phải phán xét bất cứ điều gì. Cứ thế, từng câu từng dòng một, tôi để chúng thấm đẫm vào tâm trí và da thịt mình. Thế giới này vẫn cần có phê bình, điều đó là chắc chắn, nhưng đó không phải công việc của tôi.

John Wray: Trở lại các cuốn sách của ông: tiểu thuyết trinh thám hard-boiled của Mỹ rõ ràng là một nguồn chất liệu vô cùng quý giá đối với ông. Ông đã tiếp xúc với thể loại này từ khi nào và cơ duyên nào đã đưa ông đến với nó?

Murakami: Hồi học trung học, tôi bắt đầu yêu thích những cuốn tiểu thuyết hình sự. Khi đó tôi sống ở Kobe, một thành phố cảng từng có nhiều người nước ngoài và thủy thủ sinh sống và qua lại, họ bán sách bìa mềm cho những cửa hàng sách cũ. Tôi tuy nghèo nhưng vẫn có thể mua những cuốn bìa mềm giá rẻ. Tôi học đọc tiếng Anh từ những cuốn sách ấy và điều đó vô cùng thú vị.

John Wray: Cuốn đầu tiên ông đọc bằng tiếng Anh là cuốn nào?

Murakami: “The Name Is Archer (Tên tôi là Archer)” của Ross MacDonald. Tôi đã vỡ ra được rất nhiều điều từ những trang sách ấy. Một khi đã bắt đầu, tôi chẳng thể nào dứt ra được. Cùng thời điểm đó, tôi cũng say mê cả Tolstoy và Dostoevsky. Các tác phẩm của họ đều là những kiệt tác đầy mê hoặc; dẫu đồ sợ và dày cộp, chúng vẫn không thể khiến tôi ngừng đọc. Với tôi, Dostoevsky và Raymond Chandler đều có giá trị như nhau. Ngay cả bây giờ, lý tưởng nghệ thuật của tôi là vẫn luôn đặt Dostoevsky và Chandler cạnh nhau trong cùng một cuốn sách. Đó chính là mục tiêu của tôi.

Lời bình người dịch: Đặt Dostoevsky và Chandler cạnh nhau trong một cuốn sách là một câu nói kinh điển của Murakami. Ông muốn dùng cấu trúc trinh thám, hình sự, với sự lôi cuốn, dồn dập của Chandler làm bộ khung, nhưng bên trong lại chứa đựng những suy tư sâu sắc về nhân sinh, cái ác và nội tâm con người của Dostoevsky.

John Wray: Sự kết hợp này có thể xảy ra trong một cuốn tiểu thuyết trinh thám, hình sự, nhưng liệu nó thể xuất hiện trong một cuốn tiểu thuyết kiểu như của Dostoevsky không?

Murakami: Dostoevsky đã làm điều đó rồi đấy chứ. Cuốn "Anh em nhà Karamazov" suy cho cùng chính là một tiểu thuyết trinh thám. Chúng hoàn toàn là một thứ thôi.

Lời bình của người dịch: Câu hỏi trên của John Wray rất sắc sảo, ông đang thách thức tính khả thi của sự kết hợp của Murakami trong việc có thể tạo ra những tác phẩm lớn. Câu trả lời của Murakami cho thấy góc nhìn đặc biệt của ông về văn học kinh điển, một tác phẩm đồ sộ như "Anh em nhà Karamazov" bản chất được vận hành bằng một trục cốt truyện trinh thám.

John Wray: Ở tuổi nào ông bắt đầu đọc Kafka?

Murakami: Khi tôi 15 tuổi. Tôi đã đọc “The Castle (Lâu đài)”; đó là một tác phẩm tuyệt vời. Và cả “The Trial (Vụ án)” nữa.

Lời bình của người dịch: Câu trả lời này có vẻ rất logic với mạch tư duy và thế giới của Murakami, bởi bên cạnh “bộ khung” trinh thám của Chandler và “chiều sâu tâm lý” của Dostoevsky, thì thế giới phi lý, hoang mang hoang đường kiểu Franz Kafka chính là mảnh ghép thứ ba hoàn thiện nên thế giới nghệ thuật của ông, mà đỉnh cao được phản ánh rõ nhất chính là cuốn tiểu thuyết "Kafka bên bờ biển" được xuất bản quanh thời điểm bài phỏng vấn này diễn ra.

John Wray: Thật thú vị. Cả hai cuốn tiểu thuyết ấy đều bị Kafka bỏ lại dang dở, đồng nghĩa với việc những nút thắt trong đó không bao giờ được giải quyết. Các tác phẩm của chính ông cũng vậy -  đặc biệt là những tác phẩm gần đây như "Biên niên ký chim vặn dây cót" - thường có xu hướng “khước từ” một kết cục trọn vẹn mà người đọc hằng mong đợi. Liệu đây có phải là một sự ảnh hưởng từ Kafka?

Murakami: Đâu chỉ có thế. Dĩ nhiên anh cũng từng đọc Raymond Chander rồi chứ. Sách của ông ấy chẳng bao giờ đưa ra một kết luận rõ ràng nào cả. Ông ấy có thể viết, “Hắn ta chính là kẻ sát nhân”, nhưng với tôi ai là thủ phạm chẳng có gì quan trọng. Có một giai thoại rất thú vị khi đạo diễn Howard Hawks làm phim "The Big Sleep (Giấc ngủ dài)". Hawks không tài nào hiểu nổi rốt cuộc ai đã giết gã tài xế, thế là ông ấy gọi điện cho Chandler để hỏi, và Chandler đã trả lời rằng: “Tôi không quan tâm!”. Tôi cũng y như vậy. Mọi kết cục đều vô nghĩa. Tôi cũng chẳng thèm quan tâm ai mới là kẻ giết người thực sự trong cuốn "Anh em nhà Karamazov".

John Wray: Nhưng chính cái khao khát muốn tìm ra kẻ đã giết gã tài xế mới là một phần yếu tố khiến "The Big Sleep" trở thành một câu chuyện lôi cuốn, khiến người ta không thể đặt sách xuống chứ?

Murakami: Chính bản thân tôi, khi đặt bút viết, cũng chẳng thể biết được ai là thủ phạm. Độc giả và tôi hoàn toàn đứng ở điểm xuất phát của quá trình khám phá. Mỗi khi khởi đầu một câu chuyện, tôi không biết gì về kết cục và cũng chẳng rõ điều gì sắp diễn ra. Nếu truyện mở màn bằng một vụ án mạng, tôi không hề biết kẻ thủ ác là ai. Tôi viết sách chính là vì muốn tự mình tìm ra lời giải đó. Nếu đã biết thủ phạm ngay từ đầu, thì việc viết nên câu chuyện ấy có còn ý nghĩa gì đâu.

John Wray: Có phải sách của ông cũng tồn tại một cảm giác khước từ việc giải thích, tương tự như một giấc mơ sẽ mất đi sức mạnh của nó nếu bị đưa ra phân tích?

Murakami: Cái hay của việc viết sách là ta có thể chủ động mơ trong lúc tỉnh. Nếu là một giấc mơ thực sự, ta không tài nào kiểm soát được nó. Nhưng khi viết sách, ta tỉnh; ta có thể chọn thời gian, độ dài, chọn mọi thứ. Tôi thường viết bốn hoặc năm tiếng vào buổi sáng và khi trực giác báo hiệu đã chạm giới hạn, tôi sẽ dừng lại. Ngày hôm sau tôi lại có thể tiếp tục nối dài nó. Nếu là một giấc mơ thực sự, anh đâu thể nào làm được như thế.

John Wray: Ông nói rằng mình không hề biết ai là thủ phạm khi đang viết, nhưng tôi lại đang nghĩ về một ngoại lệ khả dĩ: nhân vật Gotanda trong "Nhảy nhảy nhảy". Có sự cố tình dồn nén các tình tiết để tạo cao trào nào đó hướng về khoảnh khắc Gotanda thú tội - theo đúng phong cách tiểu thuyết hình sự cổ điển. Gotanda được thể hiện với chúng ta như một người ít đáng nghi nhất. Liệu có thật là ông không hề biết trước Gotanda chính là kẻ có tội?

Murakami: Trong bản thảo đầu tiên, tôi không hề biết thủ phạm là Gotanda. Mãi đến gần cuối - khoảng hai phần ba chặng đường - tôi mới nhận ra điều đó. Sau này, khi bắt tay vào viết bản thảo thứ hai, tôi mới chỉnh sửa và viết lại các phân cảnh của Gotanda dưới tâm thế đã biết rõ cậu ta chính là hung thủ.

Lời bình của người dịch: Câu trả lời này của nhà văn làm cho người đọc biết đến Kỹ thuật viết nhiều bản thảo. Với Murakami, bản thảo đầu tiên hoàn toàn là sự tuôn trào của tiềm thức và những giấc mơ chủ động trong khi tỉnh (đã nói đến trong câu trả lời phía trên của nhà văn), nơi ông không can thiệp bằng lý trí. Chỉ đến bản thảo thứ hai và các bản chỉnh sửa sau đó, ông mới dùng tư duy logic để gọt giũa, cài cắm thêm các chi tiết nhằm giúp mạch truyện trở nên nhất quán và dồn nén hơn.

John Wray: Vậy đó có phải là một trong những mục đích cốt lõi của việc chỉnh sửa bản thảo không -  tức là chắt lọc những điều ông nghiệm ra từ cái kết của bản thảo đầu tiên, rồi viết lại các phần trước đó để tạo cho toàn bộ tác phẩm một cảm giác về tính tất yếu không thể tránh khỏi?

Murakami: Đúng thế. Bản thảo đầu tiên cực kỳ lộn xộn; tôi phải sửa đi sửa lại.

John Wray: Thường thì ông đi qua bao nhiêu bản thảo?

Murakami: Khoảng bốn hoặc năm bản. Tôi mất sáu tháng viết bản thảo đầu tiên và sau đó dành tiếp bảy hay tám tháng để chỉnh sửa lại nó.

John Wray: Vậy là khá nhanh đấy chứ.

Murakami: Tôi là một người làm việc rất chăm chỉ, lại cực kỳ tập trung. Thế nên việc đó cũng dễ dàng thôi, anh biết đấy. Một khi đã viết, tôi chẳng màng đến bất cứ việc gì khác ngoài viết.

John Wray: Vậy thói quen viết lách của ông là như thế nào?

Murakami: Khi đang trong giai đoạn tập trung viết một cuốn tiểu thuyết, tôi luôn thức dậy vào lúc bốn giờ sáng và làm việc liên tục từ năm đến sáu tiếng. Đến buổi chiều, tôi sẽ chạy bộ 10km hoặc bơi 1.500m (hoặc đôi khi là cả hai), sau đó tôi đọc sách một chút và nghe nhạc. Tôi đi ngủ vào lúc 9 giờ tối. Tôi duy trì nề nếp này mỗi ngày mà không có một chút thay đổi nào.

Bản thân sự lặp đi lặp lại đó mới là điều tối quan trọng; nó giống như một hình thức thôi miên. Tôi thôi miên chính mình để chạm đến một trạng thái sâu thẳm hơn của tâm thức. Thế nhưng, để giữ được nề nếp ấy đều đặn trong một khoảng thời gian dài -  từ sáu tháng cho đến một năm -  đòi hỏi một nguồn thể chất và tinh thần cực kỳ lớn. Theo nghĩa đó, việc viết một cuốn tiểu thuyết dài giống như sự tập luyện để sinh tồn. Sức mạnh thể chất cũng cần thiết y như sự nhạy cảm nghệ thuật vậy.

John Wray: Tôi muốn hỏi một chút về các nhân vật của ông. Trong quá trình sáng tác, họ trở nên sống động và chân thực đến mức nào đối với ông? Việc họ có một cuộc đời độc lập, tách biệt khỏi mạch truyện có ý nghĩa quan trọng với ông không?

Murakami: Khi sáng tạo nhân vật trên trang sách, tôi thích quan sát những con người có thực trong cuộc đời. Tôi vốn không thích nói nhiều, tôi chỉ thích lắng nghe câu chuyện của người khác. Tôi không quyết định họ là loại người nào, tôi chỉ cố gắng suy nghĩ về điều họ cảm thấy, nơi họ đi. Tôi thu thập một vài dữ liệu từ người này, một vài dữ liệu từ người kia. Tôi không biết điều này là “hiện thực” hay “siêu thực” nhưng với tôi, nhân vật của tôi thật hơn con người thật. Trong khoảng sáu hoặc bảy tháng tôi viết, những con người ấy luôn ở trong tôi. Đó là một vũ trụ riêng nhất định của tôi.

John Wray: Nhân vật chính của ông dường như thường đóng vai như một sự phóng chiếu điểm nhìn của chính ông vào thế giới kỳ ảo trong truyện - tựa như người nằm mơ bên trong chính giấc mơ của mình.

Murakami: Xin hãy hình dung thế này: tôi có một người em sinh đôi (3). Khi tôi lên hai tuổi, một trong hai đứa -  chính là người em - bị bắt cóc. Nó được đưa đến một nơi xa xôi, và từ đó đến nay chúng tôi bặt vô âm tín. Tôi nghĩ nhân vật chính của mình chính là đứa em đó. Một phần trong tôi, nhưng không phải là tôi, và chúng tôi đã xa nhau đằng đẵng. Nó giống như một phần bản thể thay thế của chính tôi vậy. Về mặt di truyền thì giống nhau, nhưng môi trường sống lại hoàn toàn khác biệt. Vì thế, cách tư duy của chúng tôi chẳng thể giống nhau. Mỗi lần viết một cuốn sách, tôi lại hóa thân, trải nghiệm những số phận và cuộc đời khác nhau. Bởi lẽ đôi khi, tôi thấy mệt mỏi với việc cứ phải là chính mình. Bằng cách này, tôi có thể đào thoát. Đó là một thế giới ảo mộng. Nếu không thể có nổi một ảo mộng cho riêng mình, thì phước phần của việc viết sách còn có nghĩa lý gì?

John Wray: Thêm một câu hỏi nữa về "Xứ sở diệu kỳ tàn bạo". Tác phầm này có một kết cấu đối xứng rất rõ nét, mang tính quy chuẩn cao về mặt hình thức, đồng thời tạo ra một cảm giác viên mãn ở phần kết - điều khiến nó khác biệt hẳn so với các cuốn tiểu thuyết sau này, đơn cử như "Biên niên ký chim vặn dây cót". Phải chăng ở một thời điểm nào đó, quan niệm của ông về vai trò và tầm quan trọng của cấu trúc trong một cuốn tiểu thuyết đã có sự thay đổi?

Murakami: Đúng vậy. Hai cuốn sách đầu tay của tôi chưa từng được phát hành bên ngoài Nhật Bản (4), và đó là ý muốn của tôi. Với tôi, đó là những tác phẩm còn nhiều thiếu sót - những cuốn sách hết sức nhỏ bé. Chúng lỏng lẻo và hời hợt, nếu đó là từ đúng để mô tả về nó.

John Wray: Thiếu sót của chúng là gì?

Murakami: Điều mà tôi cố gắng thực hiện trong hai cuốn sách đầu tay là giải cấu trúc lối viết tiểu thuyết truyền thống của Nhật Bản. Với tôi, giải cấu trúc đồng nghĩa với việc loại bỏ mọi thứ bên trong, chỉ giữ lại bộ khung. Sau đó, tôi phải lấp đầy cái khung ấy bằng những chất liệu hoàn toàn mới mẻ và độc đáo. Tôi chỉ thực sự tìm ra điều đó ở cuốn sách thứ ba, "Cuộc săn cừu hoang", năm 1982. Hai cuốn tiểu thuyết đầu tiên, suy cho cùng chỉ có giá trị như những bài tập trên hành trình học hỏi - không hơn không kém. Tôi coi "Cuộc săn cừu hoang" là khởi đầu thực sự cho phong cách của mình.

Kể từ cột mốc đó, các tác phẩm của tôi ngày một đồ sộ hơn, và cấu trúc của chúng cũng theo đó mà trở nên phức tạp hơn. Mỗi khi viết một cuốn sách mới, tôi đều muốn phá vỡ cấu trúc của tác phẩm trước đó để tạo nên một điều gì đó mới mẻ. Tôi luôn cài cắm một chủ đề mới, một rào cản mới, hoặc một góc nhìn mới vào đứa con tinh thần tiếp theo của mình. Tôi luôn ý thức một cách cực kỳ rõ ràng về mặt cấu trúc. Bởi nếu thay đổi cấu trúc, tôi buộc phải thay đổi cả văn phong lẫn hệ thống nhân vật sao cho phù hợp. Nếu lần nào cũng lặp lại một lói mòn cũ, tôi sẽ trở nên mệt mỏi. Tôi sẽ chán ngấy chính bản thân mình.

John Wray: Thế nhưng, trong khi một vài yếu tố trong các tác phẩm của ông có sự thay đổi, thì những yếu tố khác lại gần như bất biến. Tiểu thuyết của ông luôn được đào sâu dưới ngôi kể thứ nhất. Trong mỗi cuốn sách, nhân vật người đàn ông đều đi qua một chuỗi những mối quan hệ thấm đẫm tính dục với phụ nữ; và đặt cạnh họ, anh ta thường ở thế thụ động - những người phụ nữ dường như xuất hiện để làm hiện rõ những nỗi sợ và những ảo tưởng của anh ta.

Murakami: Trong các tác phẩm và những câu chuyện của tôi, theo một nghĩa nào đó, phụ nữ đóng vai trò như một người dẫn lối tâm linh, mà thiên chức của một người dẫn lối là khiến mọi thứ được hiển lộ xuyên qua chính bản thân họ. Đó là một dạng hệ thống được tạo ra để trải nghiệm. Nhân vật chính luôn được người phụ nữ ấy dẫn dắt tới một miền đất nào đó, và những nhãn quan mà anh ta thấy được cũng chính là do cô ấy hiển lộ cho anh ta.

John Wray: Dẫn lối tâm linh theo nghĩa thời Victoria? Như những bà đồng gọi hồn?

Lời bình của người dịch: Trong câu trả lời phía trên của Murakami, từ “dẫn lối tâm linh” được tôi dịch từ từ “mediums”. Bản dịch thô của từ “medium” nghĩa là “phương tiện”. Tuy nhiên, trong văn cảnh tâm lý học và thế giới tâm linh kỳ ảo của Murakami, “medium” ở đây chính là “dung môi”, hoặc chính xác nhất là “bà đồng/ vật trung gian/ người dẫn lối tâm linh”. Họ là những người sở hữu năng lực kết nối thế giới thực tại với thế giới tiềm thức sâu thẳm. Tiếp theo, John Wray đã rất nhạy bén khi nhận ra chữ “medium” mà Murakami dùng không theo nghĩa “phương tiện/công cụ” thông thường, mà chính là hình ảnh ẩn dụ về trung gian kết nối, giống như của thời Victoria. Thời kỳ Victoria (thế kỷ 19 ở Anh) là giai đoạn cực thịnh của phong trào gọi hồn, cầu cơ và các hiện tượng siêu nhiên. Các “bà đồng” (mediums) thời này thường ngồi trong phòng tối, rơi vào trạng thái xuất thần để kết nối và truyền lời của các linh hồn từ thế giới bên kia về thế giới thực tại.

Murakami: Tôi nghĩ tình dục là một hành động… thuộc về sự gắn kết tâm giao. Nếu chuyện ấy hòa hợp, tổn thương sẽ được chữa lành, và trí tưởng tượng sẽ được tiếp thêm nguồn sống. Nó giống như một con đường dẫn vào vùng tâm thức cao hơn, tới một nơi tốt đẹp hơn. Theo nghĩa đó, trong các câu chuyện của tôi, phụ nữ đóng vai trò như những người dẫn lối tâm linh - những sứ giả báo trước về một thế giới sắp đến. Đó là lý do họ luôn chủ động tìm đến với nhân vật chính của tôi, chứ anh ta chẳng bao giờ đi tìm họ cả.

John Wray: Dường như luôn có hai hình mẫu phụ nữ rất khác biệt trong những cuốn tiểu thuyết của ông: những người phụ nữ có mối quan hệ sâu sắc, mang tính cam kết gắn bó lâu dài với nhân vật chính - thường sẽ biến mất và ký ức về cô ấy ám ảnh anh ta - mẫu phụ nữ còn lại là người đến sau, giúp anh ta tìm kiếm hoặc quên đi quá khứ. Mẫu phụ nữ thứ hai này thường có xu hướng bộc trực, thẳng thắn, có phần lập dị, cởi mở về tình dục; khi ở bên người phụ nữ thứ hai, nhân vật chính tự nhiên, ấm áp và vui vẻ hơn nhiều so với người phụ nữ đã đi, người mà anh ta chưa thực sự từng chạm đến tâm hồn. Mục đích của ông khi xây dựng hai hình mẫu này là gì?

Murakami: Các nhân vật chính của tôi gần như luôn mắc kẹt giữa lằn ranh của thế giới tâm thức và thế giới thực tại. Trong miền tâm thức, con người - dù là nam hay nữ - đều tĩnh lặng, thông minh và khiêm tốn. Họ mang sự thấu suốt. Trái lại, ở thế giới thực, đúng như anh nhận định, phụ nữ luôn tràn đầy năng lượng, vui vẻ và lạc quan. Họ có khiếu hài hước. Bản ngã của nhân vật chính bị xé tan giữa hai thế giới hoàn toàn đối lập và anh ta không thể lựa chọn. Tôi coi đó là một chủ đề chính trong các tác phẩm của mình. Nó hiển hiện rõ ràng nhất trong "Xứ sở diệu kỳ tàn bạo", khi tâm trí anh ta bị chia cắt. Hay như trong "Rừng Na Uy", có hai cô gái song hành và anh ta chẳng thể đưa ra lựa chọn, từ đầu cho đến cuối cuốn tiểu thuyết.

John Wray: Sự đồng cảm của tôi dường như luôn hướng về phía những cô gái có khiếu hài hước. Độc giả rất dễ bước vào một mối quan hệ nơi sự hài hước chiếm thế chủ đạo; chứ thật khó để chinh phục họ bằng những mô tả đẹp đẽ về một mối tình sâu nặng. Trong "Rừng Na Uy", tôi lúc nào cũng đứng về phía Midori.

Murakami: Tôi nghĩ hầu hết độc giả cũng sẽ đồng tình như vậy. Phần lớn họ đều sẽ chọn Midori. Và nhân vật chính, dĩ nhiên, cuối cùng cũng chọn cô ấy. Thế nhưng một phần trong anh ấy sẽ mãi mãi thuộc về một thế giới khác, nơi mà anh ấy không thể buông bỏ nó. Đó là một phần máu thịt của anh ấy, một phần tất yếu. Mỗi con người đều dung chứa một khoảng tối trong tâm thức. Khoảng tối đó là một phần căn tính của họ. Chúng ta tồn tại với cả sự tỉnh táo và điên dại trong tâm trí, luôn phải đi tìm sự hòa hợp giữa chúng, tôi tin bản chất là vậy. Tôi có thể thấy phần điên dại trong tâm trí của mình rõ nhất khi viết - mà từ “điên dại” không hẳn đã chuẩn. Nó là dị thường, phi thực. Lẽ dĩ nhiên, tôi phải quay lại với thực tại để trí óc mình trở về bình thường. Nhưng nếu không có phần điên dại, phần khoảng tối đó, tôi đã không ở đây. Nói cách khác, nhân vật chính được nâng đỡ bởi hai người phụ nữ; thiếu đi một người, anh ta không thể bước tiếp. Vì vậy, "Rừng Na Uy" là một ví dụ vô cùng trực quan cho thế giới quan nghệ thuật của tôi.

John Wray: Nhân vật Reiko trong "Rừng Na Uy" là một trường hợp rất thú vị trong bối cảnh ấy. Tôi không chắc nên đặt cô ấy ở đâu; bởi dường như cô ấy đã đặt chân vào cả hai thế giới.

Murakami: Tâm trí cô ấy vừa tỉnh táo, vừa điên dại. Reiko giống như một chiếc mặt nạ trong kịch nghệ Hy Lạp cổ đại vậy: nếu nhìn từ góc này, cô ấy là một nhân vật mang tính bi kịch; nhưng nếu nhìn từ góc khác, cô ấy lại tràn đầy sự hài hước. Theo nghĩa đó, cô ấy là một biểu tượng rất lớn. Tôi vô cùng trân quý nhân vật này. Khi đặt bút tạo ra cô ấy -  Reiko-San - tôi đã cảm thấy rất hạnh phúc.

John Wray: Ông có cảm thấy mình dành nhiều tình cảm cho những nhân vật mang tính hài hước - như Midori và May Kasahara - hơn cho những người như Naoko không?

Murakami: Tôi rất thích viết những đoạn đối thoại hài hước; việc đó vui lắm chứ. Nhưng nếu mọi nhân vật của tôi đều khôi hài thì câu chuyện sẽ trở nên tẻ nhạt. Những nhân vật hài hước ấy gần như là một bộ công cụ định hình sự cân bằng trong tâm trí tôi; sự hài hước có một sức mạnh ổn định rất lớn. Bạn phải đủ bình tâm thì mới có thể hài hước được. Khi quá nghiêm túc, ta dễ rơi vào trạng thái chênh vênh; đó chính là vấn đề của sự nghiêm túc. Ngược lại, khi giữ được sự hài hước, ta sẽ giữ được sự ổn định. Thế nhưng, ta không thể vừa mỉm cười vừa chiến đấu được.

John Wray: Tôi nghĩ hiếm có nhà văn nào tự buộc mình viết đi viết lại những nỗi ám ảnh của mình như ông. "Xứ sở diệu kỳ tàn bạo", "Nhảy nhảy nhảy", "Biên niên ký chim vặn dây cót", và "Người tình Sputnik" gần như đòi hòi phải được soi chiếu như những biến thể của cùng một chủ đề duy nhất: một người đàn ông bị đối tượng mà anh ta khao khát khước từ, hoặc lạc mất cô ấy bằng cách này hay cách khác; chính sự bất lực trong việc buông bỏ đã kéo anh ta vào một thế giới song song - nơi dường như mở ra cơ hội tìm lại những gì đã mất, nơi mà cuộc sống thực tại của anh ta (và độc giả) đang trải nghiệm không bao giờ có thể dung chứa. Ông có đồng tình với nhận định này không?

Murakami: Có.

John Wray: Nỗi ám ảnh này là trọng tâm trong các tác phẩm của ông như thế nào?

Murakami: Tôi cũng không biết vì sao mình cứ mãi viết về những điều đó. Tôi nhận thấy trong các tác phẩm của John Irving, ở bất kỳ cuốn sách nào của ông, luôn có một nhân vật bị khuyết đi một phần cơ thể. Tôi chẳng rõ vì sao ông ấy cứ liên tục viết về những phần cơ thể khiếm khuyết ấy; có lẽ chính ông cũng không tự giải thích được. Với tôi thì mọi chuyện cũng diễn ra tương tự. Nhân vật chính của tôi lúc nào cũng thiếu vắng một điều gì đó, và anh ta dành cả đời để tìm kiếm mảnh ghép lỡ làng ấy. Cuộc tìm kiếm đó tựa như hành trình đi tìm Chén Thánh, hay giống như gã thám tử Philip Marlowe vậy (5).

John Wray: Ta không thể có một thám tử nếu như không có một điều gì đó mất đi.

Murakami: Đúng. Khi nhân vật chính của tôi thiếu một thứ gì đó, anh ta phải dấn thân tìm kiếm nó. Anh ta như người anh hùng Odysseus vậy. Anh ta trải qua rất nhiều điều kỳ lạ trong hành trình tìm kiếm đó… (6)

John Wray: Trong quá trình chật vật để tìm đường trở về nhà.

Murakami: Anh ta buộc phải sống sót qua những biến cố ấy, để rồi cuối cùng cũng tìm thấy điều mình hằng tìm kiếm. Thế nhưng, chính anh ta lại chẳng thể chắc chắn chắn rằng thứ tìm được đó có phải là thứ ban đầu hay không. Tôi nghĩ đó chính là mô-típ cốt lõi trong các tác phẩm của mình. Những ý niệm ấy đến từ đâu? Tôi không biết. Nhưng nó phù hợp với tôi. Nó là nguồn sức mạnh thúc đẩy những câu chuyện của tôi: mất mát, kiếm tìm, rồi tìm thấy. Để rồi sau đó là vỡ mộng - một dạng nhận thức hoàn toàn mới về thế giới.

John Wray: Sự vỡ mộng giống như một nghi thức để trưởng thành?

Murakami: Đúng vậy. Bản thân trải nghiệm chính là ý nghĩa. Nhân vật chính đã thay đổi trong quá trình trải nghiệm ấy - đó mới là điều quan trọng nhất. Trọng tâm không nằm ở việc anh ta tìm thấy cái gì, mà là anh ta đã thay đổi ra sao.

John Wray: Tôi muốn hỏi một chút về quá trình dịch thuật đối với các tác phẩm của ông. Bản thân cũng là một dịch giả, chắc hẳn ông hiểu rất rõ những rủi ro và thách thức đi kèm với công việc này. Ông lựa chọn người dịch các cuốn sách của mình như thế nào?

Murakami: Tôi có ba dịch giả thân cận - Alfred Birnbaum, Philip Gabriel và Jay Rubin - và nguyên tắc làm việc là “ai đến trước thì nhận trước”. Chúng tôi là bạn bè nên rất thẳng thắn với nhau. Họ sẽ đọc sách của tôi, và nếu một trong số họ nghĩ: “Cuốn sách này sinh ra là dành cho mình! Mình phải nhận nó”. Thì anh ấy sẽ đảm nhiệm bản dịch đó. Bản thân cũng là một dịch giả, tôi hiểu rằng sự nhiệt huyết chính là linh hồn của một bản dịch tốt. Nếu ai đó có kỹ thuật dịch rất giỏi nhưng lại không thực sự say mê tác phẩm thì cũng chẳng đi đến một kết quả tốt nhất. Dịch thuật là một công việc cực kỳ vất vả và tốn thời gian.

John Wray: Các dịch giả của ông chưa từng cạnh tranh với nhau?

Murakami: Không hẳn. Mỗi người họ đều có gu riêng; họ là những cá tính hoàn toàn khác biệt với những nét tính cách khác nhau. Như với cuốn "Kafka bên bờ biển", Phil thích nó nên đã nhận lời dịch, còn Jay thì không hào hứng cho lắm. Phil là một người rất khiêm nhường và lịch thiệp; trong khi Jay lại là một dịch giả cực kỳ tỉ mỉ, chính xác, anh ấy thuộc kiểu người có cá tính mạnh. Riêng Alfred lại là một người tự do; giờ tôi cũng chẳng rõ anh ấy đang ở đâu nữa. Anh ấy kết hôn với một phụ nữ Myanmar, một nhà hoạt động xã hội. Đôi khi họ còn bị chính quyền ở đó giam giữ. Anh ấy là kiểu người như vậy đấy. Phong cách dịch của anh ấy cũng rất phóng khoáng, thỉnh thoảng anh ấy còn tự ý sửa cả văn bản nữa. Gu của anh ấy là thế mà.

John Wray: Ông phối hợp với các dịch giả của mình như thế nào? Chính xác thì quá trình làm việc diễn ra sao?

Murakami: Trong quá trình dịch, họ hỏi tôi rất nhiều điều, và khi có bản thảo đầu tiên, tôi sẽ tự mình đọc lại. Đôi khi tôi cũng đưa ra một vài góp ý. Bản dịch tiếng Anh các tác phẩm của tôi đóng vai trò vô cùng quan trọng; bởi những quốc gia nhỏ như Croatia hay Slovenia thường sẽ dịch lại từ bản tiếng Anh chứ không phải tiếng Nhật. Chính vì thế, bản tiếng Anh đòi hỏi phải cực kỳ chính xác. Tuy nhiên, ở hầu hết các nước khác, họ vẫn dịch trực tiếp từ nguyên bản tiếng Nhật.

John Wray: Bản thân ông có vẻ thích dịch tác phẩm của các nhà văn hiện thực - như Carver, Fitzgeraid, Irving. Điều này phản ánh thị hiếu của ông như một độc giả, hay việc thả mình vào một không gian văn chương khác biệt là một liệu pháp hữu ích cho hành trình sáng tác của ông?

Murakami: Với những tác giả tôi dịch, họ đều có những cuốn sách mang lại cho tôi những bài học. Đó là yếu tố then chốt. Bản thân tôi tự đúc kết được rất nhiều từ các nhà văn hiện thực. Văn phong của họ đòi hỏi tôi phải đọc sâu và cần mẫn để chuyển ngữ, điều đó giúp tôi bóc tách được những bí ẩn sau trang viết. Nếu tôi dịch tác phẩm của những nhà văn hậu hiện đại như Don DeLillo, John Barth, hay Thomas Pynchon; sự điên rồ của tôi và của họ, khi kết hợp với nhau sẽ tạo thành một cuộc “bại huyết” văn chương. Dĩ nhiên, tôi tôn kính tác phẩm của họ, nhưng trên tư cách một dịch giả, tôi chọn các nhà văn hiện thực.

John Wray: Các tác phẩm của ông thường được đánh giá là đại diện văn học Nhật Bản dễ tiếp cận nhất đối với công chúng Mỹ, thậm chí, bản thân ông được coi là nhà văn phương Tây nhất trong số các nhà văn Nhật Bản đương đại. Tôi rất tò mò không biết bản thân ông định vị mối quan hệ của mình với nền văn hóa Nhật Bản như thế nào?

Murakami: Tôi không có ý định viết về những người nước ngoài ở một quốc gia xa lạ nào đó, tôi muốn viết về chính chúng tôi. Tôi muốn viết về Nhật Bản, về cuộc sống của chúng tôi ở ngay tại nơi này. Điều đó vô cùng quan trọng đối với tôi. Nhiều người cho rằng phong cách của tôi gần gũi với người phương Tây; điều đó có thể đúng, nhưng bản sắc của tôi thuộc về chính tôi, bản sắc ấy chưa từng bị Tây hóa.

Lời bình của người dịch: Trong câu trả lời trên của Murakami, “bản sắc” được tôi dịch từ “stories”, vì, chữ stories ở đây không chỉ là “câu chuyện” thông thường, nó là thế giới quan, chất liệu sáng tác.. Nên để lột tả được cái độc bản của Murakami, từ “câu chuyện” là chưa đủ.

John Wray: Và nhiều biểu tượng văn hóa vốn có vẻ rất phương Tây đối với người Mỹ, chẳng hạn như “The Beatles” cũng là một phần không thể thiếu trong đời sống văn hóa của Nhật Bản.

Murakami: Khi tôi viết về nhân vật ăn humburger trong tiệm McDonald’s, người Mỹ thắc mắc, tại sao tay này không ăn đậu phụ mà lại đi ăn hamburger? Nhưng ăn hamburger là một điều rất tự nhiên với chúng tôi, một hoạt động hết sức bình thường.

John Wray: Như vậy, liệu có thể nói rằng các cuốn sách của ông đã tái hiện một cách chính xác đời sống đô thị đương đại của Nhật Bản?

Murakami: Cách mọi người hành xử, trò chuyện, phản ứng hay tư duy, tất thảy đều đậm chất Nhật Bản. Không một độc giả người Nhật nào - hoặc gần như là không một ai - phàn nàn rằng những câu chuyện của tôi xa rời cuộc sống của chúng tôi. Tôi vẫn luôn nỗ lực viết về con người Nhật Bản. Tôi muốn viết về việc chúng tôi là ai, chúng tôi đang đi về đâu, và tại sao chúng tôi lại hiện diện ở nơi này. Tôi nghĩ, đó chính là tư tưởng xuyên suốt trong các tác phẩm của mình.

John Wray: Liên quan đến tác phẩm "Biên niên ký chim vặn dây cót", ông từng chia sẻ rằng mình rất trăn trở về người cha của mình, về những biến cố đã xảy ra trong cuộc đời cũng như thế hệ của ông ấy; thế nhưng, hình bóng người cha lại hoàn toàn vắng bóng trong cuốn tiểu thuyết đó, và dường như là trong hầu hết các tác phẩm của ông. Vậy trong bản thân cuốn sách, mối quan tâm này được kết tinh ở đâu?

Murakami: Hầu hết các tiểu thuyết của tôi đều được kể ở ngôi thứ nhất. Nhiệm vụ chủ yếu của nhân vật chính là quan sát những gì đang diễn ra xung quanh mình. Anh ta thấy những gì buộc phải thấy, hoặc những gì cần và nên thấy, ngay trong thời gian thực. Có thể nói, anh ta khá giống với nhân vật Nick Carraway trong The Great Gatsby (Gatsby vĩ đại). Anh ta đứng ở vị thế trung lập, và để duy trì được sự trung lập đó, anh ta phải được giải phóng khỏi mọi mối quan hệ huyết thống, mọi sự ràng buộc với hệ thống gia đình gia trưởng truyền thống.

Điều này có thể coi là phản ứng của tôi trước một thực tế rằng “gia đình” vốn chiếm vai trò quá nặng nề trong văn học truyền thống Nhật Bản. Tôi muốn khắc họa nhân vật chính của mình như một cá nhân độc lập và tuyệt đối. Thân phận là một cư dân đô thị, anh ta cũng liên quan mật thiết đến điều này. Anh ta thuộc kiểu người sẵn sàng ưu tiên lựa chọn sự tự do và cô độc hơn là sự gắn kết hay các mối quan hệ cá nhân.

John Wray: Khi đọc “Super-Frog Saves Tokyo (Siêu ếch cứu Tokyo)” trong tập truyện ngắn “After the Quake (Sau cơn động đất)” mới nhất của ông, nơi một con giun khổng lồ ẩn mình sâu dưới lòng đất Tokyo đe dọa hủy diệt thành phố, tôi không thể không liên tưởng đến thế giới manga hay những bộ phim quái vật thời xưa của Nhật. Ngoài ra, nó còn gợi đến truyền thuyết dân gian về con cá trê khổng lồ nằm dưới vịnh Tokyo, loài sinh vật mà theo thần thoại cứ nửa thế kỷ lại cựa mình một lần và gây ra những trận động đất. Những mối liên tưởng này có ý nghĩa gì đối với ông không? Chẳng hạn như manga, ông có nhìn thấy sợi dây gắn kết nào giữa chúng với các tác phẩm của mình?

Murakami: Không, tôi không nghĩ vậy. Tôi chưa bao giờ yêu thích manga cả. Tôi không bị ảnh hưởng bởi những thứ đó.

John Wray: Còn văn hóa dân gian Nhật Bản thì sao?

Murakami: Thuở nhỏ, tôi được đắm mình trong rất nhiều câu chuyện cổ tích và giai thoại dân gian Nhật Bản. Những câu chuyện ấy đóng vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình trưởng thành của mỗi người. Chẳng hạn như nhân vật Siêu Ếch, biết đâu cũng bước ra từ chính kho tàng truyện kể đó. Anh có kho tàng văn hóa dân gian của Mỹ, người Đức có kho tàng của họ, người Nga cũng có của riêng họ. Thế nhưng, vẫn luôn tồn tại một chiếc kho chung - một vùng ký ức tập thể mà tất cả chúng ta đều có thể khai thác: như “The Little Prince (Hoàng tử bé)”, McDonald’s, hay The Beatles.

John Wray: Chính là kho tàng văn hóa đại chúng của thế giới.

Murakami: Trong việc viết lách ngày nay, cốt truyện đóng vai trò tối quan trọng. Tôi không quan tâm đến lý thuyết. Tôi cũng không quan tâm đến kho từ vựng. Điều cốt lõi duy nhất là câu chuyện đó có hay, có cuốn hút hay không. Chúng ta đang có một kiểu dạng văn hóa dân gian mới -  sản phẩm được nhào nặn từ kỷ nguyên internet này. Bản thân nó chính là một dạng thức ẩn dụ. Tôi từng xem bộ phim “The Matrix (Ma trận)” -  và tôi nghĩ đó chính là câu chuyện dân gian đại diện cho tâm thức thời đại chúng ta. Thế mà ở đây người ta cứ chê nó tẻ nhạt.

John Wray: Ông đã xem bộ phim hoạt hình “Spirited Away (Vùng đất linh hồn)” của Hayao Miyazaki chưa? Tôi thấy bộ phim này có những nét tương đồng rất rõ nét với các tác phẩm của ông, đạo diễn Miyazaki cũng nhào nặn các chất liệu truyền thống của dân tộc dưới lăng kính đương đại. Ông có yêu thích những thước phim của vị đạo diễn này không?

Murakami: Không. Tôi không thích phim hoạt hình. Tôi mới chỉ xem một đoạn ngắn của bộ phim đó thôi, nhưng nó không phải gu của tôi. Tôi chẳng mấy bận tâm đến những thứ như vậy. Khi bắt tay vào viết một cuốn sách, trong đầu tôi luôn hiện lên một hình ảnh, và hình ảnh đó có sức lay động vô cùng mạnh mẽ.

John Wray: Ông có thường xuyên đi xem phim không?

Murakami: Ồ, có chứ. Tôi đi xem suốt đấy. Đạo diễn yêu thích nhất của tôi là một người Phần Lan - Aki Kaurismäki. Tôi cực kỳ yêu thích mọi bộ phim của ông ấy. Tư duy điện ảnh của ông ấy vô cùng độc đáo.

John Wray: Và hài hước.

Murakami: Rất hài hước.

John Wray: Như ông đã nói trước đó, sự hài hước đóng vai trò là một nhân tố mang lại sự ổn định. Nó còn có ích theo cách nào khác?

Murakami: Tôi muốn độc giả của mình thi thoảng phải bật cười. Ở Nhật, rất nhiều người tranh thủ đọc sách của tôi trên tàu khi đi làm. Một người làm công ăn lương bình thường mất hai tiếng mỗi ngày để di chuyển và họ dành thời gian đó để đọc. Đó là lý do vì sao những cuốn sách dày của tôi luôn được chia làm hai tập: chúng sẽ quá nặng nếu in thành một cuốn. Có một số người viết thư cho tôi, họ phàn nàn rằng họ cười khi đọc sách của tôi trên tàu. Việc đó làm họ hơi ngượng ngùng. Đó là những lá thư làm tôi thích nhất. Tôi biết họ đang cười khi lật giở trang sách của mình, cảm giác đó tuyệt lắm. Tôi muốn cứ mười trang tôi lại có thể làm họ mỉm cười một lần.

John Wray: Đó là công thức bí mật của ông?

Murakami: Tôi không hề tính toán trước. Nhưng nếu có thể làm thế thì thật tốt. Hồi còn ngồi trên ghế đại học, tôi mê đọc Kurt Vonnegut và Richard Brautigan. Văn phong của họ vừa hài hước, dí dỏm nhưng đồng thời những chủ đề họ mổ xẻ lại vô cùng nghiêm túc. Tôi thích những cuốn sách như thế. Lần đầu tiên tiếp xúc với Vonnegut và Brautigan, tôi đã bị chấn động khi nhận ra trên đời này lại tồn tại những cuốn sách như thế! Cảm giác đó chẳng khác nào vừa phát hiện ra một thế giới mới vậy.

John Wray: Nhưng ông chưa bao giờ muốn viết theo phong cách ấy?

Murakami: Tôi nghĩ bản thân thế giới này, cuộc sống đô thị này, đã là một vở hài kịch rồi. Truyền hình có tới 50 kênh, còn chính phủ thì đầy rẫy những kẻ ngốc - chẳng phải hài kịch thì là gì. Thế nên tôi luôn cố gắng viết sao cho thật nghiêm túc, nhưng càng nghiêm túc thì câu văn lại càng hài hước. Hồi tôi 19 tuổi, vào những năm 1968 và 1969, chúng tôi đã từng nghiêm túc một cách cự đoan. Đó là thời đại của những điều hệ trọng lớn lao, và con người thời ấy thì tràn ngập lý tưởng.

John Wray: Thú vị là "Rừng Na Uy", có bối cảnh trong khoảng thời gian đó, có lẽ là cuốn ít hài hước nhất của ông.

Murakami: Theo nghĩa đó, thế hệ của chúng tôi là một thế hệ đầy nghiêm túc. Nhưng giờ đây khi nhìn lại những ngày tháng ấy, tôi lại thấy nó buồn cười làm sao! Đó là một thời kỳ đầy rẫy những mâu thuẫn mơ hồ. Vậy nên tôi nghĩ, thế hệ chúng tôi cũng dần quen với việc sống chung với điều đó.

John Wray: Một trong những nguyên tắc của chủ nghĩa hiện thực huyền ảo là không được phép làm lộ hay thu hút sự chú ý vào các yếu tố kỳ ảo trong truyện. Thế nhưng, ông lại hoàn toàn phớt lờ quy tắc đó: các nhân vật của ông hay tự nói về tính chất kỳ quái của cốt truyện, thậm chí còn chủ động hướng sự chú ý của người đọc vào đó. Mục đích của điều này là gì? Tại sao?

Murakami: Đó là một câu hỏi cực kỳ thú vị. Để tôi suy ngẫm một chút… Chà, tôi cho rằng đó chính là sự quan sát thành thật của tôi về sự kỳ quái của thế giới này. Nhân vật chính của tôi trải qua chính những gì tôi đang trải nghiệm trong lúc viết, và đó cũng là những gì độc giả trải qua khi đọc. Với Kafka hay García Márquez, các tác phẩm của họ mang tính văn chương hơn, theo nghĩa cổ điển. Còn câu chuyện của tôi thì thực tế hơn, đương đại hơn - nó mang lại một trải nghiệm đậm chất hậu hiện đại hơn. Hãy thử hình dung nó như một phim trường, nơi mọi thứ - từ đạo cụ, những cuốn sách trên tường cho đến giá sách - đều là giả. Những bức tường chỉ được dựng bằng giấy. Trong trường phái hiện thực huyền ảo cổ điển, tường hay sách đều là thật. Còn trong tiểu thuyết của tôi, nếu cái gì là giả, tôi muốn nói thẳng nó là giả. Tôi không muốn giả vờ như thể chúng là thật.

John Wray: Để tiếp tục ẩn dụ về phim trường, việc đưa góc máy lùi lại có thể giúp khán giả thấy toàn bộ hoạt động của trường quay hay không?

Murakami: Tôi không hề có ý định thuyết phục độc giả tin rằng đó là một thực thể có thật; tôi chỉ muốn phơi bày nó đúng như bản chất vốn có của nó. Theo một cách nào đó, tôi đang ngầm nói với người đọc rằng đây chỉ là một câu chuyện mà thôi -  nó là giả đấy. Thế nhưng, một khi bạn đã trải nghiệm cái giả ấy như một điều chân thật, thì tự khắc nó có thể trở thành cái thật. Để cắt nghĩa thấu đáo điều này thật sự không dễ chút nào.

Vào thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, nhiệm vụ của các nhà văn là đem đến cho độc giả những điều chân thật nhất. Trong “War and Peace (Chiến tranh và hòa bình)”, Tolstoy đã miêu tả chiến trường chi tiết và sống động khiến người đọc tin nó là thật. Nhưng tôi thì không làm vậy. Tôi chẳng việc gì phải giả vờ như thể nó là thật cả. Chúng ta đang sống trong một thế giới giả; xem những bản tin thời sự giả vào buổi tối. Chiến đấu cho những cuộc chiến giả. Và đến cả chính phủ cũng giả. Thế nhưng, chúng ta vẫn tìm kiếm những giá trị thật giữa thế giới giả đó. Những câu chuyện của tôi cũng vận hành theo cách tương tự; chúng ta đang đi qua những bối cảnh giả, nhưng chính chúng ta, khi đi qua những bối cảnh này, lại là thật. Tình thế đó là thật, theo nghĩa nó là một sự dấn thân, một mối tương quan có thật. Đó chính là điều mà tôi muốn viết.

John Wray: Trong tác phẩm của mình, ông thường liên tục đào sâu vào những chi tiết tầm thường.

Murakami: Tôi rất thích các chi tiết. Nếu như Tolstoy muốn hướng tới một sự miêu tả toàn cảnh, mang tính tổng thể; thì lối mô tả của tôi lại chỉ thu hẹp và tập trung vào một vùng không gian rất nhỏ. Khi bạn đặc tả chi tiết của những thứ vô cùng nhỏ nhặt, tiêu cự góc nhìn của bạn sẽ ngày càng tiến lại gần hơn, và khi đó, một hiệu ứng hoàn toàn trái ngược với Tolstoy sẽ đến - mọi thứ bắt đầu trở nên phi thực. Đó chính là điều mà tôi muốn đạt được trong tác phẩm của mình.

John Wray: Tiêu cự thu hẹp đến mức khiến ông vượt qua cả ranh giới của chủ nghĩa hiện thực, để rồi những điều tầm thường, quen thuộc lại một lần nữa trở nên kỳ lạ?

Murakami: Càng tiến lại gần, mọi thứ càng trở nên phi thực. Đó chính là phong cách của tôi.

John Wray: Ở phần trước, ông có nhắc đến García Márquez và Kafka như những đại diện của dòng văn học tinh hoa để đối lập với bản thân mình; phải chăng ông không nghĩ mình là một nhà văn thuộc dòng văn học tinh hoa?

Murakami: Tôi là một nhà văn thuộc dòng văn học đương đại, điều đó rất khác biệt. Thời của Kafka chỉ có âm nhạc, sách vở và kịch nghệ; còn bây giờ chúng ta có Internet, phim ảnh, băng đĩa và muôn vàn thứ khác. Chúng ta đang phải đối mặt với quá nhiều sự cạnh tranh. Rào cản lớn nhất chính là thời gian: ở thế kỷ XIX, con người - tôi đang nói đến tầng lớp thượng lưu nhàn hạ - họ có thừa thời gian, vì thế họ mới đọc những cuốn sách dày cộp. Họ đi xem opera và có thể ngồi lỳ ở đó suốt ba, bốn tiếng đồng hồ. Nhưng ngày nay mọi người đều quá bận rộn, và chẳng còn một “tầng lớp nhàn hạ” đúng nghĩa nào cả. Đọc Moby-Dick hay Dostoevsky thì rất tuyệt đấy, nhưng giờ người ta không có đủ thời gian cho những tác phẩm như thế. Vậy nên văn chương hư cấu buộc phải thay đổi một cách triệt để -  chúng ta phải bắt độc giả và lôi họ vào thế giới của cuốn sách. Các nhà văn hư cấu đương đại giờ đây đang vay mượn kỹ thuật từ nhiều lĩnh vực khác - từ nhạc jazz, video game, cho đến bất cứ thứ gì có thể. Tôi nghĩ video game hiện nay là thứ gần với tiểu thuyết hơn cả.

John Wray: Video game ư?

Murakami: Đúng vậy. Bản thân tôi không thích video game, nhưng tôi cảm nhận rất rõ sự tương đồng. Đôi khi trong sáng tác, tôi cảm thấy mình vừa là một người thiết kế trò chơi, và đồng thời vừa là một game thủ. Chính tôi là người tạo ra trò chơi, nhưng giờ đây tôi lại mắc kẹt trong thế giới trò chơi đó; tay trái không biết tay phải đang làm gì. Đó là một kiểu tách biệt đầy khách quan. Một cảm giác như thể mình đang bị phân thân vậy.

John Wray: Đó là một cách khác để nói rằng mặc dù không biết điều gì sẽ diễn ra tiếp theo khi ông viết, một phần khác bên trong ông lại biết chính xác những gì sắp đến?

Murakami: Tôi nghĩ là theo một cách vô thức nào đó. Khi hoàn toàn chìm đắm vào trang viết, tôi biết được những gì tác giả và cả người đọc đang cảm nhận. Điều đó thật tốt - nó giúp tôi viết rất nhanh. Bởi lẽ, chính tôi cũng khao khát được biết điều gì sẽ xảy ra tiếp theo, không khác gì độc giả. Nhưng đôi khi mình vẫn phải biết ghìm lại ở một điểm nào đó. Nếu đi quá nhanh, người ta dễ rơi vào mệt mỏi và nhàm chán. Ta buộc phải để họ dừng chân ở một điểm nhất định nào đó.

John Wray: Ông làm điều đó bằng cách nào?

Murakami: Tôi cảm nhận được nó. Tôi biết khi nào đã đến lúc dừng lại.

John Wray: Còn nhạc jazz và âm nhạc nói chung thì sao? Chúng giúp ích gì cho ông trong công việc?

Murakami: Tôi nghe jazz từ khi 13 hay 14 tuổi gì đó. Âm nhạc có sức lay động và ảnh hưởng vô cùng mạnh mẽ đến tôi: những hợp âm, giai điệu, nhịp phách cho đến cả cái hồn cốt của nhạc blues -  tất cả đều hữu ích cho tôi khi viết. Tôi từng khao khát trở thành một nhạc sĩ, nhưng tôi chơi nhạc không tốt lắm, vì vậy tôi đã trở thành nhà văn. Viết một cuốn sách, với tôi cũng tựa như chơi một bản nhạc vậy: đầu tiên tôi dạo lên chủ đề chính của mình, sau đó bắt đầu ngẫu hứng ứng biến, và rồi khép lại bằng một kết thúc, đại loại là như thế.

John Wray: Trong nhạc jazz truyền thống, chủ đề ban đầu thường sẽ lặp lại ở đoạn kết. Ông có quay trở lại không?

Murakami: Đôi khi. Với tôi, nhạc jazz là một hành trình, một hành trình mang tính tinh thần. Nó chẳng khác mấy so với việc viết văn.

John Wray: Ai là nhạc công Jazz ông thích nhất?

Murakami: Rất nhiều! Tôi đặc biệt thích Stan Getz và Gerry Mulligan. Hồi còn là một thiếu niên, họ chính là thần tượng lớn nhất của tôi. Dĩ nhiên, tôi cũng thích Miles Davis và Charlie Parket. Nhưng nếu anh hỏi tôi mở đĩa nhạc của ai nhiều nhất, thì câu trả lời sẽ là Miles của những năm 1950 - 1960. Miles luôn là một nghệ sĩ tiên phong, một người không ngừng làm mới phong cách của chính mình -  tôi rất ngưỡng mộ ông ấy.

John Wray: Ông có thích Coltrane không?

Murakami: Bình thường. Đôi lúc tôi cảm thấy ông ấy gồng quá mức. Ông ấy kiên định một cách cực đoan.

John Wray: Còn những loại nhạc khác thì sao?

Murakami: Tôi cũng thích nhạc cổ điển, đặc biệt là baroque. Trong cuốn sách mới của tôi, "Kafka bên bờ biển", cậu bé nhân vật chính thường nghe Radiohead và Prince. Tôi đã rất ngạc nhiên khi biết rằng: có thành viên của Radiohead thích sách của tôi!

John Wray: Tôi thì không ngạc nhiên.

Murakami: Tôi có đọc phần ghi chú bìa đĩa bằng tiếng Nhật cho album Kid A, và cậy ấy viết rằng mình rất thích sách của tôi. Điều đó làm tôi rất tự hào.

John Wray: Ông có thể nói một chút về "Kafka bên bờ biển không"?

Murakami: Đó là cuốn sách phức tạp nhất tôi từng viết, thậm chí còn phức tạp hơn cả "Biên niên ký chim vặn dây cót". Gần như không thể nào giải thích rạch ròi được.

Có hai câu chuyện diễn ra song song. Ở tuyến thứ nhất, nhân vật chính là một cậu bé 15 tuổi. Tên cậu bé, cậu tự gọi mình là Kafka. Ở tuyến truyện còn lại, nhân vật chính là một người đàn ông 60 tuổi. Ông ấy không biết chữ, chẳng thể đọc cũng chẳng thể viết. Ông ấy thuộc kiểu người ngây ngô, khờ dại, nhưng bù lại, ông có thể trò chuyện với mèo. Cậu bé Kafka bị cha mình bủa vây bởi một lời nguyền, một lời nguyền kiểu như Oedipus: “con sẽ giết cha, và ngủ với mẹ mình”. Cậu bỏ nhà ra đi để trốn chạy cha mình, để thoát khỏi lời nguyền ấy, tìm đến một nơi xa xôi, nhưng lại lạc bước vào một thế giới kỳ lạ, đầy phi thực và bảng lảng như một giấc mơ.

John Wray: Về mặt cấu trúc, cuốn sách này có vẻ giống như "Xứ sở diệu kỳ tàn bạo và chốn tận cùng thế giới", khi các chương truyện cứ luân phiên xen kẽ, dịch chuyển qua lại từ tuyến nhân vật này sang tuyến nhân vật khác phải không?

Murakami: Đúng vậy. Ban đầu, tôi đã định viết phần tiếp theo cho "Xứ sở diệu kỳ tàn bạo", nhưng rồi lại quyết định kể một câu chuyện hoàn toàn khác. Dẫu vậy, phong cách của chúng vẫn rất tương đồng. Tinh thần cốt lõi cũng rất giống nhau. Chủ đề chính vẫn là về thế giới này và thế giới kia; về cách mà chúng ta có thể đi đi về về giữa hai thế giới.

John Wray: Thật vui khi được biết điều đó, bởi "Xứ sở diệu kỳ tàn bạo" là cuốn ưa thích của tôi.

Murakami: Tôi cũng vậy. Cuốn sách mới này là một thử nghiệm đầy tham vọng, bởi lẽ trước đây, các nhân vật chính trong tác phẩm tôi luôn ở độ tuổi đôi mươi hoặc ba mươi. Nhưng lần này, đó lại là một cậu thiếu niên 15 tuổi.

John Wray: Giống như Holden Caulfield?

Murakami: Đúng vậy. Viết câu chuyện đó thật sự rất thú vị. Khi viết về cậu thiếu niên ấy, tôi như được sống lại những năm tháng tuổi 15 của chính mình. Tôi luôn nghĩ ký ức là tài sản quý giá nhất của con người. Nó giống như một thứ nhiên liệu; nó cháy lên và sưởi ấm chúng ta. Ký ức của tôi giống như một chiếc tủ: Có nhiều ngăn kéo trong chiếc tủ ấy, và khi muốn trở lại làm một cậu bé 15 tuổi, tôi chỉ cần mở một ngăn kéo nhất định ra. Ở đó, tôi sẽ tìm thấy lại những cảnh sắc mà mình từng nhìn thấy ngày còn là đứa trẻ ở Kobe. Tôi có thể ngửi thấy mùi của không khí, có thể chạm tay vào mặt đất, và có thể nhìn thấy màu xanh của cây cối. Đó chính là lý do vì sao tôi muốn viết một cuốn sách.

John Wray: Để quay về với những nhận thức ở tuổi 15?

Murakami: Ví dụ thế. Phải.

John Wray: Việc lớn lên ở Kobe, thay vì một nơi nào khác ở Nhật Bản, có ý nghĩa quan trọng như thế nào đối với phong cách mà ông đã xây dựng? Kobe là một thành phố cởi mở, mang tính quốc tế, và có thể có đôi chút lập dị.

Murakami: Người dân Tokyo còn kỳ lạ hơn người dân Kobe nhiều! Họ bị bao bọc bởi các dãy núi, thế nên tâm lý của họ cũng khác hẳn.

John Wray: Nhưng ông sinh ra ở Kyoto. Đúng không?

Murakami: Đúng thế, nhưng khi tôi lên hai thì gia đình tôi đã chuyển đến Kobe. Cho nên đó mới thật sự là quê hương tôi. Kobe nằm nép mình bên biển và ngay cạnh những ngọn núi, trải dài trên một dải đất hẹp. Tôi không thích Tokyo; nó quá bằng phẳng, quá rộng, rất rộng. Tôi không thích sống ở đây.

John Wray: Nhưng ông đang sống ở đây! Tôi dám chắc là ông có thể sống ở bất cứ nơi nào ông muốn.

Murakami: Đó là bởi vì tôi có thể ẩn danh ở thành phố này. Cũng giống như ở New York. Không ai nhận ra tôi cả; tôi có thể đi ăn bất cứ đâu. Tôi có thể lên tàu điện ngầm mà không bị ai làm phiền. Tôi có một ngôi nhà trong một thị trấn nhỏ vùng ngoại ô Tokyo, và ở đó thì ai cũng biết tôi. Mỗi lần đi dạo đều bị nhận ra. Và đôi khi, chuyện đó thật phiền toái.

John Wray: Lúc trước ông có nhắc đến Ryū Murakami. Dường như ông ấy có một lịch trình rất khác biệt với tư cách là một nhà văn.

Murakami: Phong cách của tôi mang tính hậu hiện đại; còn của anh ấy thuộc dòng văn học chính thống. Thế nhưng, lần đầu tiên đọc cuốn “Coin Locker Babies (Những đứa trẻ trong tủ gửi đồ)”, tôi đã bị chấn động mạnh; tôi tự nhủ mình cũng muốn viết ra kiểu tiểu thuyết đầy nội lực như thế. Ngay sau đó, tôi đã bắt đầu viết "Cuộc săn cừu hoang". Vì vậy, giữa chúng tôi là một kiểu đối trọng, cạnh tranh nhưng tôn trọng nhau.

John Wray: Hai người là bạn?

Murakami: Chúng tôi có mối quan hệ tốt. Ít nhất thì cũng không phải kẻ thù của nhau. Anh ấy có một tài năng thiên bẩm lớn. Cứ như thể anh ấy có sẵn một giếng dầu ngay dưới lòng đất vậy. Nhưng với tôi, “mỏ dầu” của tôi nằm sâu đến mức tôi đã phải đào, đào, và đào mãi. Đó thật sự là một công việc vất vả. Và tôi đã phải mất rất nhiều thời gian mới chạm được đến nó. Nhưng một khi đã chạm tới rồi, tôi cảm thấy mình mạnh mẽ và tự tin hơn. Cuộc sống của tôi đã được đưa vào khuôn khổ hệ thống. Việc dốc hết sức mình để đào bới thực ra lại là một điều tốt.

Chú thích của người dịch:

(1): Tristram Shandy xuất bản từ 1759 đến 1767, là một trong những tiểu thuyết tiên phong đại diện cho lối viết "lai tạp", phá vỡ mọi cấu trúc dòng thời gian, kể chuyện lan man một cách có chủ đích và cực kỳ quái dị.

(2): Phong trào phản kháng thập niên 1960 - Theo 1960s Protest Movement là một làn sóng biểu tình, bạo động chính trị và văn hóa mang tính toàn cầu. Bùng bổ mạnh mẽ nhất vào giai đoạn 1968 - 1969. Tại Nhật Bản, phong trào phản kháng được dẫn dắt chủ yếu bởi chủ nghĩa Cánh tả mới (New Left) và các liên minh sinh viên như ZengakurenZenkyōtō. Giới trẻ xuống đường vì 3 lý do lớn: Phản đối chính phủ gia hạn Hiệp ước an ninh Mỹ -  Nhật (Anpo), Phản đối Chiến tranh Việt nam và Yêu cầu Cải cách giáo dục.

(3): Thực tế nhà văn Murakami không có người em sinh đôi nào. Ông là con một trong gia đình và không có bất kỳ anh chị em nào cả.

(4): Hai cuốn sách đầu tay đó là “Hear the Wind Sing (Lắng nghe gió hát)”“Pinball”.

(5): John Irving là nhà văn, nhà biên kịch nổi tiếng người Mỹ mà Murakami rất ngưỡng mộ. Các nhân vật trong những tác phẩm của John Irving thường chịu những tổn thương hoặc mất mát về mặt thể xác. Murakami cũng từng trực tiếp phỏng vấn John Irving. Chén Thánh là vật báu huyền thoại trong các câu chuyện về Vua Authur, biểu tượng cho một cuộc tìm kiếm vĩ đại, gian nan nhưng thiêng liêng. Philip Marlowe là nhân vật thám tử tư nổi tiếng trong các tiểu thuyết trinh thám của Raymond Chandler - một hình mẫu có ảnh hưởng cực kỳ sâu sắc đến lối xây dựng nhân vật của Murakami.

(6): Odysseus là vị vua/chiến binh huyền thoại trong sử thi Hy Lạp cổ đại của Homer, người đã phải trải qua hành trình 10 năm trên biển để tìm đường trở về quê hương và gặp lại vợ mình. Trên hành trình ấy, Odysseus đã phải đối đầu với nhiều quái vật, cạm bẫy và những phép thuật kỳ lạ.

Nguồn: The Paris Review, Dương Tất Thắng dịch

VnTimeless

Cảm ơn bạn đã ghé thăm website!
    Comment

0 comments:

Post a Comment